|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2025/DS-ST
Ngày: 21/3/2025
“V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Vũ Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thanh Liêm;
- Ông Võ Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Tiểu Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1471/2025/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2024 về “tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2025/QĐST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Kim N, sinh năm 1997; địa chỉ: khóm L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Bà Quách Thị L, sinh năm 1986; địa chỉ: khóm L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Ông Hồ Quốc V, sinh năm 1982; địa chỉ: khóm L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.
- 3.2. Cháu Hồ Quách Gia H, sinh năm 2008; địa chỉ: khóm L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang; có ý kiến xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện ủy quyền cho nguyên đơn bà Trần Kim N là ông Nguyễn Trung K, sinh năm 1999; địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Theo văn bản ủy quyền ngày 04 tháng 5 năm 2025 đã được Ủy ban nhân dân xã K, huyện C, tỉnh An Giang chứng thực; có văn bản xin xét xử vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật cho cháu Hồ Quách Gia H là ông Hồ Quốc V, bà Quách Thị L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện ủy quyền cho nguyên đơn bà Trần Kim N là ông Nguyễn Trung K trình bày, do chỗ quen biết với vợ chồng bà L, ông V, cháu H nên vào ngày 25/4/2024 bà N có cho bà L, ông V, cháu H vay số tiền 450.000.000 đồng và 05 (năm) chỉ vàng 24 ka ra (loại vàng 9999) hai bên có làm hợp đồng vay tiền, hai bên thỏa thuận lãi suất 7.000.000 /tháng, không hẹn thời gian trả. Trong hợp đồng vay tiền không thể hiện chữ ký, chữ viết của ông V là do sợ ảnh hưởng đến việc kinh doanh của ông V, chỉ có bà L và cháu Gia H ký tên. Thời gian lâu mà ông V, bà L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà N. Nay bà N yêu cầu bà L, ông V, cháu Gia H cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà N số tiền vay 450.000.000 đồng và 05 (năm) chỉ vàng 24 ka ra (loại vàng 9999), yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật kể từ ngày 25/4/2024 cho đến khi xét xử sơ thẩm.
Tại tờ tự khai bị đơn ông Hồ Quốc V trình bày: Việc vay mượn tiền và vàng của bà L với bà N thì ông hoàn toàn không biết, việc bà L vay tiền và vàng của bà N sử dụng vào mục đích gì thì ông cũng không biết, và hiện nay ông và bà L cũng đã được Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới giải quyết bằng một vụ án ly hôn, do đó đối với vụ án này thì ông không có liên quan gì.
Tại tờ tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Hồ Quách Gia H trình bày: Cháu là con của ông V, bà L, đối với việc vay mượn tiền và vàng của bà L với bà N thì cháu hoàn toàn không biết, do cháu sống chung nhà với bà L và là con của bà L nên cháu mới ký tên vào hợp đồng vay tiền, bà L là người trực tiếp nhận tiền và vàng của bà N để sử dụng. Do cháu còn đang đi học nên cho cháu xin vắng mặt trong quá trình tại tố tụng tại Tòa án, cháu không khiếu nại gì về sau.
- Bị đơn bà Quách Thị L, cháu Hồ Quách Gia H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình công khai chứng cứ hòa giải vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Quốc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt trong quá trình công khai chứng cứ hòa giải vụ án nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến.
Tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp chứng minh cho ý kiến, yêu cầu khởi kiện là bản sao biên nhận nợ ngày 25/4/2024; bản sao căn cước công dân (bản sao).
Tại phiên tòa,
Người đại diện ủy quyền cho nguyên đơn là ông Nguyễn Trung K có văn bản xin vắng mặt nên không cung cấp tài liệu chứng cứ nào khác.
Bị đơn vắng mặt không có ý kiến.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hồ Quốc V không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến giải quyết vụ án:
Ngày 25/4/2024, bà Trần Kim N có cho bà Quách Thị L, ông Hồ Quốc V, cháu Hồ Quách Gia H vay số tiền 425.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24K loại 9999, lãi suất 7.000.000 đồng/tháng, mục đích vay để kinh doanh mua bán và phục vụ cuộc sống gia đình, đã giao đủ số tiền và vàng xong. Từ khi vay đến nay, ông V, bà L và cháu H không trả vốn và lãi nên bà N khởi kiện yêu cầu ông V, bà L và cháu Hoàng liên Đ trả số tiền 425.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24K loại 9999 và tính lãi suất 20%/năm đối với số tiền 450.000.000 đồng.
Phía bà L, cháu H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản ghi nhận ý kiến. Riêng, ông V không thừa nhận việc vay mượn tiền của bà L, không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà N.
Căn cứ bà N khởi kiện là hợp đồng vay tiền ngày 25/4/2024 thể hiện bên cho vay là bà N, bên vay là bà L, đối tượng của hợp đồng vay là số tiền 320.000.000 đồng và 02 chỉ vàng 24K, không có thời hạn, lãi suất 5.000.000 đồng/tháng nên có cơ sở xác định giữa bà N và bà L có xác lập hợp đồng vay tài sản, trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận, nội dung giao – nhận số tiền 425.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24K loại 9999, quá trình tố tụng, bà L không có ý kiến phản hồi yêu cầu khởi kiện của bà N nên việc bà N khởi kiện yêu cầu bà L trả số tiền 425.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24K loại 9999 là phù hợp Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự.
Đối với cháu H, dưới mục người vay có chữ ký tên của cháu Hồ Quách Gia H, tại thời điểm này, cháu H là người chưa thành niên, chưa có năng lực trách nhiệm dân sự đầy đủ. Như đã phân tích trên, người trực tiếp giao dịch và nhận số tiền 425.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24K loại 9999 là bà L, bà N không cung cấp chứng cứ chứng minh việc cháu H có nhận và sử dụng số tiền, số vàng nêu trên nên không có cơ sở xem xét đối với yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc em H có trách nhiệm liên đới trả số nợ nêu trên.
Riêng, ông V là chồng của bà L, ông V không thừa nhận việc vay mượn tiền của bà L, không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà N. Chứng cứ bà N khởi kiện là hợp đồng vay tiền ngày 25/4/2024, không có sự tham gia giao dịch của ông V; bà N không cung cấp chứng cứ chứng minh việc ông V có nhận và sử dụng số tiền, số vàng nêu trên nên không có cơ sở xem xét đối với yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc ông V có trách nhiệm liên đới trả số nợ nêu trên.
Về lãi suất, do bà L chậm thực hiện nghĩa thanh toán, ảnh hưởng đến quyền lợi của bà N nên việc bà N yêu cầu tính lãi suất 20%/năm đối với số tiền 425.000.000 đồng là phù hợp Điều 468 Bộ luật Dân sự và thời gian tính lãi suất kể từ ngày khởi kiện 25/4/2024 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.
Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim N.
Buộc bà Quách Thị L trả bà bà Trần Kim N số tiền 425.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24K loại 9999; tính lãi suất theo quy định của pháp luật đối với số tiền 425.000.000 đồng, kể từ ngày 25/4/2024 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.
Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim N yêu cầu ông Hồ Văn V1, cháu Hồ Quách Gia Hoàng liên Đ cùng bà Quách Thị L trả
số tiền 425.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24K loại 9999 và lãi suất theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên tòa, và kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Kim N khởi kiện yêu cầu bà Quách Thị L, cháu Hồ Quách Gia H, ông Hồ Quốc V có nghĩa vụ liên đới trả số tiền vay 425.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24 ka ra (loại vàng 9999). Bà Quách Thị L, cháu Hồ Quách Gia H, ông Hồ Quốc V có nơi cư trú khóm L, thị trấn C, huyện C nên yêu cầu kiện của bà N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bà Quách Thị L được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, cháu Hồ Quách Gia H có ý kiến xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L, cháu Gia H là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về nội dung:
[2] Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng:
Qua lời trình bày của người đại diện ủy quyền cho bà N là ông Nguyễn Trung K tại các biên bản hòa giải và các tài liệu chứng cứ cung cấp, qua quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử xác định giữa bà L với bà N có thỏa thuận với nhau việc vay tiền nên vào ngày 25/4/2024 bà N có cho bà L, ông V, cháu H vay số tiền 450.000.000 đồng và 05 (năm) chỉ vàng 24 ka ra (loại vàng 9999) hai bên có làm hợp đồng vay tiền, hai bên thỏa thuận lãi suất 7.000.000/tháng, không hẹn thời gian trả. Trong hợp đồng vay tiền không thể hiện chữ ký, chữ viết của ông V do sợ ảnh hưởng đến việc kinh doanh của ông V, chỉ có bà L và cháu Gia H ký tên. Thời gian lâu mà ông V, bà L, cháu Gia H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bà N. Xét thấy việc vay mượn giữa các bên được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, và phù hợp với Điều 463 Bộ luật dân sự, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, bà L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ khi bà N có yêu cầu thu hồi vốn làm thiệt thòi quyền lợi của bà N. Trong quá trình hòa giải cũng như tại phiên tòa bà L vắng
mặt và cũng không gửi ý kiến trình bày để Hội đồng xét xử xem xét, bà N xuất trình chứng cứ hợp đồng vay tiền. Tại tờ tự khai và tại phiên tòa ông V là chồng bà L cho rằng việc vay tiền giữa bà L với bà N như thế nào thì ông hoàn toàn không biết và cũng không biết bà L sử dụng vào mục đích gì.
Trong các tài liệu, chứng cứ do bà N cung cấp thì có sự thể hiện trong biên nhận nợ có chữ viết và chữ ký của bà L, cháu Gia H nhưng không thể hiện chữ ký và chữ viết của ông V. Tại phiên tòa ông V cũng không thừa nhận số nợ mà bà L vay của bà N. Cháu Gia H cũng có ý kiến trình bày là bà L là người trực tiếp nhận tiền và vàng của bà N, do đó cháu không liên quan gì đến vụ án này.
Như vậy, lời khai và lời trình bày của người đại diện ủy quyền cho bà N phù hợp với tài liệu, chứng cứ mà bà đã cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Bà N yêu cầu bà L, ông V, cháu H có nghĩa vụ liên đới trả trả cho bà số tiền vốn vay 425.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24 ka ra (loại vàng 9999) và yêu cầu tính lãi suất theo quy định pháp luật kể từ ngày 25/4/2024 cho đến khi xét xử sơ thẩm.
Xem xét yêu cầu nghĩa vụ trả nợ của bà L thì Hội đồng xét xử nhận thấy, giữa bà L với bà N cùng xác lập hợp đồng vay với nhau, nhưng bà L không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho N khi bà N có yêu cầu, do đó Hội đồng xét xử nghĩ nên buộc bà L có nghĩa vụ trả cho bà N số tiền vay 425.000.000 đồng (bốn trăm hai mươi lăm triệu đồng) và 05 (năm) chỉ vàng 24 ka ra (loại vàng 9999) là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật theo các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Xét yêu cầu nghĩa vụ liên đới đối với ông Hồ Quốc V thì Hội đồng xét xử nhận thấy, trong quá trình làm việc và tại phiên Tòa ông V không thừa nhận số tiền và vàng mà bà L vay của bà N để nhằm vào mục đích sinh hoạt trong gia đình và ông cũng không hay biết việc vay mượn trên.
Mặc khác tại hợp đồng vay tiền cũng không thể hiện chữ ký, chữ viết bên vay là ông Hồ Quốc V. Vì vậy cũng không có đủ cơ sở để buộc ông V phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà L trả cho bà N số tiền vay 425.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24 kara (loại vàng 9999) là có căn cứ đúng quy định pháp luật.
Xét yêu cầu nghĩa vụ liên đới đối với cháu Gia H cũng có ý kiến là cháu không biết gì đến việc vay tiền của bà L và bà L là người trực tiếp nhận tiền và vàng của bà N, bà N cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho việc cháu H có nhận và sử dụng số tiền, số vàng nêu trên nên không có cơ sở xem xét đối với yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc cháu H phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà L trả cho bà N số tiền vay 425.000.000 đồng và 05 chỉ vàng 24 kara (loại vàng 9999) là có căn cứ đúng quy định pháp luật.
[4] Về lãi suất: Trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện ủy quyền cho bà N là ông Nguyễn Trung K yêu cầu tính lãi suất trên số tiền 425.000.000 đồng từ ngày 25 tháng 4 năm 2024 cho đến ngày 21/3/2025, do đó số tiền lãi được tính như sau:
Số tiền vốn vay là 425.000.000 đồng. Ngày 25/4/2024 đến ngày 21/3/2025 là 330 ngày x lãi suất 20%/năm = 77.917.000 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 502.917.000 đồng.
Đối với yêu cầu của người đại diện ủy quyền cho bà N là ông Nguyễn Trung K yêu cầu tính lãi suất trên số vàng 05 chỉ vàng 24ka ra (loại vàng 9999) tính từ ngày 24/4/2024 đến ngày 21/3/2025 là không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bà Quách Thị L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Bà Trần Kim N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều:
Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 26, 35, 39, 144, 147, 227, 228, 235, 271 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim N.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc bà Quách Thị L có nghĩa vụ trả cho bà Trần Kim N số tiền vốn vay 425.000.000 đồng (bốn trăm hai mươi lăm triệu đồng) và tiền lãi là 77.917.000 đồng (bảy mươi bảy triệu chín trăm mười bảy ngàn). Tổng cộng vốn và lãi là 502.917.000 đồng (năm trăm lẽ hai triệu chín trăm mười bảy ngàn đồng).
Buộc bà Quách Thị L có nghĩa vụ trả cho bà Trần Kim N 05 (năm) chỉ vàng 24 kara (loại vàng 9999).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Kim N yêu cầu ông Hồ Quốc V, cháu Hồ Quách Gia H có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Kim N số tiền vốn vay 425.000.000 đồng (bốn trăm hai mươi lăm triệu đồng) và 05 (năm) chỉ vàng 24 kara (loại vàng 9999).
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện tính lãi suất đối với số vàng 05 chỉ vàng 24 ka ra (loại vàng 9999) của bà Trần Kim N.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Bà Quách Thị L phải chịu số tiền án phí như sau:
Số tiền vay là 502.917.000 đồng (năm trăm lẽ hai triệu chín trăm mười bảy ngàn đồng) và 05 (năm) chỉ vàng 24 kara (loại vàng 9999) tương đương với số tiền 9.770.000 đồng x 5= 48.850.000 (số vàng tính từ thời điểm ngày 21.3.2025). Tổng cộng số tiền là 551.767.000 đồng (năm trăm năm mươi mốt triệu bảy trăm sáu mươi bảy ngàn đồng). Vì vậy bà Quách Thị L phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 26.070.680 đồng (hai mươi sáu triệu không trăm bảy mươi ngàn sáu trăm tám mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Trần Kim N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho bà Trần Kim N số tiền tạm ứng án phí 10.900.000 đồng (mười triệu chín trăm ngàn
đồng) mà bà N đã nộp theo biên lai thu số 0023839 ngày 18 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.
3. Đương sự có mặt tham gia phiên toà có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Vũ Sơn |
Bản án số 41/2025/DS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 41/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
