Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THAN UYÊN

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:41/2025/HS-ST

Ngày:18/3/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lường Xuân Thu.

  • - Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Như; Ông Lò Việt Hưng.

  • - Thư ký phiên toà: Ông Lò Văn Sơm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên tham gia phiên toà: Ông Đỗ Khải Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 18/3/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2025/TLST-HS, ngày 28/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:41/2025/QĐXXST-HS ngày 07/3/2025 đối với các bị cáo:

  1. Lò Văn D - Sinh ngày 15/9/1995 tại huyện T, tỉnh Lai Châu.

  2. Nơi cư trú: Bản M, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn P – sinh năm 1974 và bà: Lường Thị H – sinh năm 1973; Gia đình có 3 anh, em bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo sống chung như vợ, chồng ( chưa ĐKKH) với Lường Thị H1 – sinh năm 1995; Bị cáo 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 17/12/2024, tạm giam từ ngày 25/12/2024, hiện bị cáo đang tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực T Công an tỉnh L.(Có mặt)

  3. Lò Văn T -Sinh ngày 23/11/2000, tại huyện T, tỉnh Lai Châu.

  4. Nơi cư trú: Bản M, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn C – sinh năm 1978 và bà: Hoàng Thị A – sinh năm 1982; Gia đình có 2 anh, em bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo sống chung như vợ, chồng ( chưa ĐKKH) với Lò Thị N – sinh năm 2000; Bị cáo 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 17/12/2024, đến ngày 25/12/2024 hiện bị cáo đang tạm giam tại tại phân trại tạm giam khu vực T Công an tỉnh L.(Có mặt)

- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nguyễn Công H2 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L.(có mặt)

-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Hoàng Thị A – sinh năm 1982. Trú tại: Bản M, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu.(có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 17/12/2024, Lò Văn D sang nhà Lò Văn T ở cùng bản Mùi 1, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu rủ T đi xuống bản Mở, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu để uống rượu. T đồng ý và lấy xe mô tô biển kiểm soát 21B2-116.09 chở D đi đến bản Mở. Sau khi uống rượu xong, trên đường về Dơn đã rủ T đi lên bản Noong Quang, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu tìm mua Heroine để sử dụng. T bảo với Dơn: "em không có tiền" Dơn nói: "tao có sẵn tiền đây rồi". T đồng ý rồi điều khiển xe mô tô chở D lên bản N, xã K, huyện T.

Theo D và T khai nhận: khi đến bản Noong Q, D và T gặp một người đàn ông tên Vừ A S. Dơn trực tiếp hỏi S mua H3, S đã bảo T và D về nhà S tại bản Noong Quang, xã K, huyện T. Tại đây, D đã mua của S 01 gói Heroine (được gói bằng mảnh nilon màu hồng) với số tiền 900.000 đồng. Mua được H3, D cất giấu vào trong túi áo rồi ngồi sau xe do T điều khiển đi về. Đến hồi 17 giờ 50 phút cùng ngày, trên đường D và T đi về đến bản O, xã K, huyện T thì gặp lực lượng Công an huyện T yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Lúc này, D đã lấy gói Heroine trong túi áo ra, thả xuống đất nhưng bị lực lượng Công an phát hiện. Sau đó, D đã tự giác nhặt gói Heroine lên giao nộp cho lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 gói Heroine được gói bằng 05 mảnh nilon màu hồng. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ của Lò Văn T 01 xe nhãn hiệu HONDA loại Ware, màu xanh, đen, bạc, biển kiểm soát 21B2-116.09, số máy: JA39E-2047115, số khung: RLHJA3927LY044171 (xe đã qua sử dụng)

Bản kết luận giám định số 78 ngày 17/12/2024 của người giám định tư pháp theo vụ việc và bản Kết luận giám định số 24 ngày 20/12/2024 của phòng K Công an tỉnh L kết luận: số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn D, Lò Văn T có khối lượng 0,87 gam; trích 0,11 gam gửi giám định, kết quả là ma túy, loại: Heroine có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định danh mục chất ma túy và tiền chất.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 gói Heroine có khối lượng 0,87 gam, đã trích 0,11 gam gửi giám định (không hoàn lại mẫu vật), còn lại 0,76 gam; 05 mảnh nilon màu hồng; 01 vỏ bì niêm phong ban đầu;

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại Ware, màu xanh, đen, bạc, biển kiểm soát 21B2-116.09, số máy: JA39E-2047115, số khung: RLHJA3927LY044171 (xe đã qua sử dụng). Quá trình điều tra xác định: chiếc xe mô tô thu giữ của Lò Văn T là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của chị Hoàng Thị A (sinh năm 1982; cư trú tại bản M, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu, là mẹ đẻ của Lò Văn T). Khi T lấy xe dùng vào việc phạm tội, chị A không biết.

Các vật chứng còn lại đang được lưu giữ, bảo quản theo quy định.

Tại bản cáo trạng số:17/CT -VKSTU, ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đã truy tố các bị cáo Lò Văn D; Lò Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện T trình bày lời luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lò Văn D; Lò Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Đề nghị HĐXX Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.

  • Xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

  • Xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy 0,76 gam Heroine; 01 phong bì bên trong đựng 05 mảnh ni lon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Trả lại cho chị Hoàng Thị A 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA loại Wave, màu xanh, đen, bạc, biển kiểm soát 21B2-116.09, số máy: JA39E-2047115, số khung: RLHJA3927LY044171 (xe đã qua sử dụng).

Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định.

Các bị cáo đều không có ý kiến tranh luận gì đối với quan điểm của vị đại diện Kiểm sát.

Người bào chữa cho các bị cáo cho rằng: Về quy trình tố tụng cũng như căn cứ pháp luật mà vị đại diện Kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với các bị cáo, người bào chữa hoàn toàn nhất trí. Tuy nhiên mức hình phạt là quá Nghiêm khắc vì: Các bị cáo đều là người dân tộc sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chưa có tiền án, tiền sự, sự nhận thức về pháp luật và xã hội còn hạn chế, hơn nữa các bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1và 01 tình tiết tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Nên đề nghị HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt ở đầu mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đều mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo được sớm trở về hòa nhập với gia đình, xã hội, tự sửa chữa sai lầm để làm người có ích và xin được miễn toàn bộ án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa người bào chữa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ cùng các chứng cứ, tài liệu khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Chiều ngày 17/12/2024, tại bản Mở, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn D đã rủ Lò Văn T đi mua Heroine về để cùng nhau sử dụng, T đồng ý. Sau đó, Lò Văn T dùng xe mô tô của gia đình chở Lò Văn D đi đến bản N, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu. Tại đây, Lò Văn D đã dùng tiền của mình mua trái phép 01 gói Heroine với số tiền 900.000 đồng, mục đích: để cùng Lò Văn T sử dụng. Sau khi mua Heroine, Lò Văn T điều khiển xe mô tô chở Lò Văn D cầm theo gói H3 đi về đến bản On, xã K, huyện T, tỉnh Lai Châu thì bị lực lượng Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,87 gam.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Lò Văn D; Lò Văn T đã cấu thành tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như vậy nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ pháp luật, mức án đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Than Uyên đối với các bị cáo là có căn cứ để HĐXX xem xét quyết định.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ phạm tội: Các bị cáo có đủ điều kiện để nhận biết: Heroine là chất ma túy gây nghiện, hủy hoại sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, nên Nhà nước nghiêm cấm và xử phạt nghiêm khắc đối với bất kỳ ai có một trong những hành vi liên quan đến chất ma túy. Nhưng để có ma túy sử dụng cho nhu cầu, ngày 17/12/2024 các bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý thực hiện hành vi mua trái phép 01 gói Heroine với giá 900.000đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Lò Văn D là người khởi xướng, rủ bị cáo T cùng đi tìm mua Heroine sử dụng và là người bỏ ra số tiền mua ma túy. Nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đầu vụ và phải chịu hình phạt cao hơn.

Tiếp đến bị cáo Lò Văn T (là người giúp sức) điều khiển xe mô tô chở Lò Văn D cùng đi tìm mua ma túy với mục đích cùng được sử dụng, nên bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ số Heroine mà các bị cáo tàng trữ. HĐXX nhận thấy các bị cáo đều là những người chồng, người cha nhưng không làm tròn bổn phận của mình mà lao vào con đường tệ nạn nghiện chất ma túy. Do vậy cần phải có một hình phạt thật nghiêm khắc để làm gương cho người khác và đây cũng là căn cứ, lý do không chấp nhận lời đề nghị của người bào chữa cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà vị Kiểm sát nhân dân đề nghị. Song quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện, các bị cáo là người dân tộc sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, sự hiểu biết pháp luật còn hạn chế, bị cáo T có ông nội là Lò Văn D1 là người có công với cách mạng. Nên cần cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xét giảm phần nào khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, theo quy định của Bộ luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung. Nhưng theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy gia đình đang khó khăn, các bị cáo không đảm nhiệm chức vụ nghề nghiệp gì, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng các hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,76 gam Heroine; 01 phong bì bên trong đựng 05 mảnh ni lon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu. Xét thấy số vật chứng này là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô HONDA loại Wave, màu xanh, đen, bạc, biển kiểm soát 21B2-116.09, số máy: JA39E-2047115, số khung: RLHJA3927LY044171 là tài sản thuộc quyền sở hữu của Hoàng Thị A. Xét thấy khi bị cáo T mang xe đi thực hiện hành vi phạm tội thì chị A không biết. Nay chị A đề nghị được lấy lại xe để làm phương tiện phục vụ nhu cầu gia đình là có căn cứ cần được chấp nhận.

Về nguồn gốc Heroine, các bị cáo khai mua của Vừ A S, sinh năm 1974, trú tại bản N, xã K, huyện T. Hiện tại S không có ở địa phương, Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm và ra quyết định tách hành vi cùng tài liệu liên quan trong vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh đối với Vừ A S, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo là người dân tộc sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa các bị cáo đều xin được miễn toàn bộ án phí là có căn cứ cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; điểm a khoản 1 khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự.

- Căn cứ điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 135;136;331;333 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1.

1.Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lò Văn D; Lò Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2.Về hình phạt:

  • Xử phạt bị cáo Lò Văn D 02 (hai) năm tù.

  • Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù của hai bị cáo được tính từ ngày 17/12/2024.

3. Về vật chứng:

- Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,76 gam Heroine; 01 phong bì bên trong đựng 05 mảnh ni lon màu hồng, 01 vỏ bì niêm phong ban đầu.

- Tuyên trả lại cho chị Hoàng Thị A 01 HONDA loại Wave, màu xanh, đen, bạc, biển kiểm soát 21B2-116.09, số máy: JA39E-2047115, số khung: RLHJA3927LY044171.

(Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Than Uyên lập ngày 04/3/2025 ).

4. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lò Văn D; Lò Văn T.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Lên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Than Uyên.
  • - VKSND tỉnh Lai Châu.
  • - Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu.
  • - Các bị cáo, người có QLNVLQ.
  • - Cơ quan CSĐT- CA tỉnh Lai Châu.
  • - CQTHAHS-CA tỉnh Lai Châu.
  • - Chi cục THADS huyện Than Uyên.
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Lai Châu.
  • - Phân trại tạm giam khu vực Than Uyên
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lường Xuân Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THAN UYÊN, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt từ 18 đến 24 tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger