Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17/03/2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp nôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Văn Quân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Tới

Bà Nguyễn Thị Mai Hoa

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 01/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 01 năm 2025, về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên phiên toà số 18/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Tạ Nguyễn Nhật L, sinh năm 1999.

Địa chỉ: Khu phố 1, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

- Bị đơn: Anh Lê Văn T, sinh năm: 1997.

Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn G, xã T, huyện T, Thanh Hóa.

Địa chỉ hiện nay: Đài Loan

Tại phiên toà vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Các đương sự đều có đơn xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện được gửi đến toà án ngày 18/12/2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Tạ Nguyễn Nhật L trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Lê Văn T, sinh năm: 1997, Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn G, xã T, huyện T, Thanh Hóa kết hôn với nhau ngày 25 tháng 06 năm 2020 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 45 ngày 25/6/2020 tại UBND Thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Ban đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cải vã, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung từ năm 2023. Sau khi kết hôn do tính chất công việc nên chị làm việc tại Việt Nam còn anh T làm việc tại Đài Loan không có địa chỉ cụ thể, chị nhận thấy cuộc sống hôn nhân không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng ly thân đến nay đã 02 năm vì khoảng cách địa lý xa xôi, vợ chồng mất dần sự kết nối dẫn đến xa cách nên chị đề nghị toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lê Văn T.

- Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Lê Tùng D, sinh ngày 13/01/2021, từ khi sinh con chị là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con, nay ly hôn chị xin được nuôi con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con để thuận tiện cho cháu phát triển sau này.

- Về tài sản và công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến trình bày của anh Lê Văn T: TAND tỉnh Thanh Hoá xuống gia đình anh T cư trú cuối cùng để tống đạt các văn bản giấy tờ xác minh về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản và công nợ của anh T nhưng gia đình bố mẹ anh T từ chối nhận văn bản tài liệu, không cung cấp thông tin của anh T để toà án làm việc nên không có ý kiến của anh T và gia đình anh T trong hồ sơ vụ án. Toà án làm thủ tục xác minh về quan hệ hôn nhân, giữa anh T và chị L với cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại địa phương cung cấp: Anh T và chị L kết hôn với nhau từ năm 2020 có đăng ký kết hôn tại UBND Thị trấn T. Sau khi kết hôn hai vợ chồng cùng sống tại nhà anh T ở khu phố G, phường T, Tp T. Anh chị có một con chung là cháu Lê Tùng D. Năm 2023 anh T đi Đ theo diện xuất khẩu lao động, hiện nay được biết chị L và cháu D đã về nhà bố mẹ đẻ ở, không còn ở nhà anh T. Đại phương không rõ địa chỉ nhà mẹ đẻ chị L ở đâu, cháu D do chị L chăm sóc. Về mâu thuẫn của anh T và chị L có hay không địa phương không nắm được vì anh chị không thông báo cho địa phương để hoà giải mâu thuẫn. Địa phương có nắm được anh T liên lạc về nhà đồng ý ly hôn với chị L.

Toà án đã thông báo thủ tục tố tụng cho anh T đến làm việc tại toà án lần thứ hai nhưng anh T vẫn vắng mặt.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:

- Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc thực hiện các thủ tục kể từ khi toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định.

- Về nội dung: Căn cứ các Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình.

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Tạ Nguyễn Nhật L, xử cho chị L được ly hôn anh Lê Văn T.

- Về con chung: Giao cháu Lê Tùng D, sinh ngày 13/01/2021 cho chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh T không phải chấp dưỡng tiền nuôi con chung.

- Về tài sản công nợ chung: Các bên không yêu cầu và không có ý kiến nên không giải quyết.

- Về án phí: Chị L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền của Tòa án: Tạ Nguyễn Nhật L1 là nguyên đơn đang sinh sống và làm việc tại Tỉnh Thanh Hóa, bị đơn là anh Lê Văn T hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Loan, Trung Quốc. Do trong vụ án có Bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có ly do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1,2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự toà án vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Xét về hôn nhân:

Chị Tại Nguyễn Nhật L và anh Lê Văn T kết hôn với nhau cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn số vào số số 45 ngày 25/6/2020 tại UBND Thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp. Quá trình anh chị chung sống có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, trong cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung. Anh chị do điều kiện công việc và cuộc sống xa nhau dẫn tới tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, không còn sự kết nối thường xuyên. Anh chị đã ly thân nhiều năm không còn sống chung với nhau nữa. Toà án cũng liên hệ lấy lời khai của người nhà anh T về quan hệ hôn nhân, con chung của anh T nhưng gia đình đều từ chối cung cấp. Xét mâu thuẫn giữa chị L và anh T đã đến mức trầm trọng, cuộc sống cung của anh chị không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bản thân chị L đã đưa con về nhà ngoại ở lâu nay. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 luật HN&GĐ xử cho chị L được ly hôn anh Lê Văn T là phù hợp.

[3] Về con chung: Anh T và chị L có con chung cháu Lê Tùng D, sinh ngày 13/01/2021, cháu D lâu nay ở với chị L, để thuận tiện cho việc chăm sóc, ổn định cuộc sống tranh sáo trốn trong sinh hoạt của cháu D nên giao cháu D cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc theo nguyện vọng của chị L là chính đáng. Chị L không yêu cầu anh T cấp dưỡng tiền nuôi con chung, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị L, căn cứ vào điều kiện thực tế của chị để xác định khả năng nuôi con nên HĐXX chấp nhận yêu cầu này của chị L.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Chị L không yêu cầu, anh T không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án, chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ:

Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; khoản 3 Điều 208; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 273; Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án;

* Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Tạ Nguyễn Nhật L.

- Về hôn nhân: Xử cho chị Tạ Nguyễn Nhật L được ly hôn anh Lê Văn T.

- Về con chung: Giao cháu Lê Tùng D, sinh ngày 13/01/2021 cho chị L trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh T không phải chấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Anh T có quyền thăm nom chăm sóc, giao dục con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của người chưa thành niên: Anh T, chị L có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đủ tài liệu và chứng cứ hợp pháp.

- Về án phí:

Chị Tạ Nguyễn Nhật L phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo Biên lai thu số ký hiệu BLTU/23, số 0000797 ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa. Chị L đã nộp đủ án phí.

* Về quyền kháng cáo:

Chị Tạ Nguyễn Nhật L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Lê Văn T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P9);
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND Thị trấn Thiệu Hoá;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; Lưu Tòa GĐ&NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger