TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 41/2025/HS-ST Ngày: 13-3-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Phú
Bà Nguyễn Thị Loan
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hoàng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Kiểm sát viên
Ngày 13 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/TLST-HS ngày 10/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: VÕ DOÃN P1, sinh ngày: 04/3/1985 tại Lâm Đồng; HKTT: thôn G, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: B Khởi Nghĩa B, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: thiết kế đồ họa; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Doãn Đ, sinh năm: 1954 và bà Vũ Thị Xuân N, sinh năm: 1958, nơi cư trú: B Khởi Nghĩa B, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; vợ con: Phạm Thị P, sinh năm 1995 và 02 con ruột lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2023, nơi cư trú: số B đường P, Phường B, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; tiền án, tiền sự: không; đảng phái: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/9/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
- Bị hại: Cháu Phạm Đức Hoàng N1, sinh ngày: 23/3/2016, địa chỉ: B Khởi Nghĩa B, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Người đại diện theo pháp luật là chị Phạm Thị P, sinh năm: 1995, địa chỉ: B Khởi Nghĩa B, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Võ Doãn P1 và chị Phạm Thị P kết hôn vào năm 2020. Trước khi kết hôn với P1, chị P có một con trai riêng tên Phạm Đức Hoàng N1, sinh ngày 23/3/2016. Từ cuối năm 2023 cho đến nay, P1, chị P và cháu N1 cùng ở tại căn nhà số B đường K B, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Trong quá trình sinh sống, nuôi dưỡng cháu N1, P1 đã nhiều lần có hành vi bạo lực, xâm phạm thân thể và tinh thần cháu N1, cụ thể như sau:
- Lần thứ nhất: Vào khoảng 19 giờ ngày 04/05/2024, khi P1 đang ở nhà cùng cháu N1, do buồn phiền cá nhân nên P1 lấy rượu ra ngồi uống một mình tại nhà. Lúc này, P1 đang ăn món cá hồi shushi sống với mù tạt, P1 cho cháu N1 một miếng nhưng cháu N1 không chịu ăn và cãi lời P1 nên P1 bực tức, đi vào bếp lấy một thìa ăn cơm bằng kim loại hơ trên bếp gas cho nóng rồi dùng thìa bằng kim loại in vào bắp tay bên trái và bắp tay bên phải của cháu N1 làm cháu N1 bị phỏng đỏ. Sau đó, tay của cháu N1 bị sưng lên và thành sẹo. Do vết thương nhẹ nên gia đình không đưa cháu N1 đến cơ sở y tế để điều trị, P1 nói cháu N1 nếu mẹ hỏi thì nói bị chạm tay vào nồi.
- Lần thứ hai: Vào khoảng 16 giờ ngày 10-11/9/2024 (P1 không nhớ rõ cụ thể ngày), P1 và cháu N1 ở nhà, P1 nói cháu N1 thu dọn đồ chơi, bánh kẹo nhưng cháu N1 dọn không sạch, làm đối phó nên P1 yêu cầu cháu N1 đưa bàn tay phải lên trước ngang ngực sau đó P1 dùng thước gỗ dài khoảng 50cm, rộng khoảng 02 cm, dày khoảng 0,5cm đánh 03 cái vào lòng bàn tay bên phải của cháu N1.
- Lần thứ ba: Vào khoảng 09 giờ ngày 21/9/2024, P1 chở cháu N1 và chị P đi từ thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng đến Đ bằng xe máy, chị P ngồi phía sau P1, cháu N1 ngồi trên bình xăng xe phía trước P1. Trên đường đi do đường xấu, cháu N1 ngồi trước che khuất tầm nhìn nên P1 bực tức, dùng tay trái vừa cấu véo, vừa ấn vào gáy của cháu N1 02 cái và yêu cầu cháu N1 cúi xuống cho P1 nhìn đường dẫn đến làm xước cổ của cháu N1, để lại vết thương đang đóng vảy.
- Lần thứ tư: Vào khoảng 18 giờ ngày 24-25/9/2024 (P1 không nhớ rõ ngày), trong lúc chăm sóc cháu Võ Minh V (con chung của P1 và chị P) bị viêm phổi phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L, P1 nói cháu N1 đẩy xe nôi đưa em V ra ngoài cổng bệnh viện, cháu N1 đẩy xe đưa em V đi trước còn P1 đi phía sau, trong quá trình đẩy xe thì cháu N1 đẩy xe đi ra đường nên P1 dùng chân phải đá 03 cái vào mông cháu N1.
- Lần thứ năm: Vào tối ngày 24-25-26/9/2024 (P1 không nhớ rõ ngày cụ thể), trong lúc chăm con bị viêm phổi đang điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh L, lúc này có P1 và cháu N1, cháu Võ Chiêu N2 (con chung của P1 và chị P), cháu N1 chơi với cháu N2 làm cháu N2 té dẫn đến dập lưỡi nên P1 bực tức, dùng chân đá mạnh 01 cái vào mông cháu N1.
- Lần thứ sáu: Vào khoảng 22 giờ ngày 26/9/2024, P1 ở nhà cùng cháu N1, P1 yêu cầu cháu N1 thay đồ để đi ngủ nhưng cháu N1 không nghe theo vì đã thay đồ tại bệnh viện, P1 cho rằng cháu N1 nói dối nên P1 yêu cầu cháu N1 nằm úp lên giường. Sau đó, P1 dùng tay phải cầm ống nhựa màu trắng, đường kính 01cm, dài khoảng 80cm đánh 05 cái vào mông cháu N1 dẫn đến hằn đỏ, bầm tím.
Ngoài ra trong thời gian ở nhà, P1 thường xuyên dùng hai ngón tay véo vào vùng tay, lưng của cháu N1, dùng tay tát vào tai, vào mặt, dùng thước gỗ đánh vào hai bàn tay, dùng ống nhựa đánh vào mông cháu N1 mỗi khi cháu N1 không nghe lời, không dọn dẹp đồ chơi sạch sẽ, ngăn nắp; dùng phần dây thắt lưng bằng da để đánh cháu N1, bắn vào người cháu N1.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) ống nhựa màu trắng, hình tròn đường kính 01cm, dài 80cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cây thước bằng gỗ dài 60cm, rộng 1,8cm, dày 0,4cm, đã qua sử dụng; 01 (một) ống tròn bằng nhựa dẻo trong suốt dài 84cm, đường kính 0,8cm; 01 (một) thắt lưng màu nâu đen, dài 117cm, rộng 3,3 cm, có một đầu bằng kim loại hình chữ nhật kích thước 6,4*4,4 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) đĩa DVD-R màu trắng, dung lượng 4,7GB, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống của Trung tâm pháp y tỉnh L số: 627/KLTTCT-PYLĐ ngày 21/10/2024 đối với cháu Phạm Đức Hoàng N1 kết luận:
- Các kết quả chính:
- + Sẹo kích thước nhỏ cẳng tay trái.
- + Sẹo 1/3 giữa cánh tay trái kích thước nhỏ.
- + Seo kích thước trung bình vai trái.
- + Sẹo cổ trái kích thước nhỏ.
- + Thay đổi sắc tố da cẳng tay phải, lưng phải và trái, mông hai bên và sau tai trái.
- Kết luận: Căn cứ thông tư số 22 ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định: Tỷ lệ phần trăm tốn thương cơ thể từng thương tích của Phạm Đức Hoàng N1 tại thời điểm giám định là:
- + Sẹo kích thước nhỏ cẳng tay trái là 01% (một phần trăm).
- + Sẹo 1/3 giữa cánh tay trái kích thước nhỏ là 01% (một phần trăm).
- + Sẹo kích thước trung bình vai trái là 02% (hai phần trăm).
- + Sẹo cổ trái kích thước nhỏ là 01% (một phần trăm).
- + Thay đổi sắc tố da cẳng tay phải, lưng phải và trái, mông hai bên và sau tai trái là 01% (một phần trăm).
Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Đức Hoàng N1, tại thời điểm giám định là 6% (sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
- Kết luận khác: Tổn thương do vật tày gây nên.
Tại Bản cáo trạng số 26/CT-VKSĐL-LĐ ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Võ Doãn P1 về tội “Hành hạ con” theo điểm a khoản 2 Điều 185 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Doãn P1 khai nhận từ tháng 4/2024 đến ngày 26/9/2024, bị cáo 06 lần hành hạ con riêng của vợ với các hành vi dùng tay, chân, thước gỗ, ống nhựa, dây thắt lưng đánh vào tay, chân, người và dùng muỗng nóng in vào tay của cháu N1.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Hành hạ con”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 185; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 3 năm đến 4 năm tù. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) ống nhựa màu trắng, hình tròn đường kính 01 cm, dài 80cm; 01 (một) cây thước bằng gỗ dài 60cm, rộng 1,8cm, dày 0,4cm; 01 (một) ống tròn bằng nhựa dẻo trong suốt dài 84 cm, đường kính 0,8 cm; 01 (một) thắt lưng màu nâu đen, dài 117 cm, rộng 3,3 cm, có một đầu bằng kim loại hình chữ nhật kích thước 6,4*4,4cm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản xác định hiện trường, biên bản tạm giữ tang vật, vật chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2024 đến ngày 26/9/2024, bị cáo 06 lần hành hạ con riêng của vợ với các hành vi dùng tay, chân, thước gỗ, ống nhựa, dây thắt lưng đánh vào tay, chân, người và dùng muỗng nóng in vào tay của cháu N1. Tại Kết luận giám định của Trung tâm pháp y tỉnh L số 627/KLTTCT-PYLĐ ngày 21/10/2024 kết luận tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của cháu N1 là 6%. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quan hệ gia đình được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình: "Cấm cha mẹ không được phân biệt đối xử giữa các con, ngược đãi, hành hạ, xúc phạm con". Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, động cơ, mục đích cá nhân. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Hành hạ con”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 185 Bộ luật hình sự.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hồi cải về hành vi của mình, được bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phạm tội 2 lần trở lên nên bị áp dụng điểm g khoản 1 Điều 52 là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi của bị cáo, nhằm giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng quan hệ gia đình và phòng ngừa chung.
[4] Xử lý vật chứng: 01 (một) ống nhựa màu trăng, hình tròn đường kính 01 cm, dài 80cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cây thước bằng gỗ dài 60cm, rộng 1,8cm, dày 0,4cm, đã qua sử dụng; 01 (một) ống tròn bằng nhựa dẻo trong suốt dài 84 cm, đường kính 0,8 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) thắt lưng màu nâu đen, dài 117 cm, rộng 3,3 cm, có một đầu bằng kim loại hình chữ nhật kích thước 6,4*4,4cm, đã qua sử dụng. Đây là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Võ Doãn P1 phạm tội “Hành hạ con”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 185; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Võ Doãn P1 3 (ba) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2024.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 41, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) ống nhựa màu trắng, hình tròn đường kính 01 cm, dài 80cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cây thước bằng gỗ dài 60cm, rộng 1,8cm, dày 0,4cm, đã qua sử dụng; 01 (một) ống tròn bằng nhựa dẻo trong suốt dài 84 cm, đường kính 0,8 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) thắt lưng màu nâu đen, dài 117 cm, rộng 3,3 cm, có một đầu bằng kim loại hình chữ nhật kích thước 6,4*4,4cm, đã qua sử dụng (Theo biên bản giao nhận giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt ngày 09/01/2025).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Võ Doãn P1 phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thanh Thủy |
Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 13/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự sơ thẩm (tội hành hạ con)
- Số bản án: 41/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Hành hạ con)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hành hạ con
