Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LÀO CAI

TỈNH LÀO CAI

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 41/2025/HS-ST

Ngày 06/3/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI – TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Anh;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hoàng Văn Ngân;
  2. Ông Nguyễn Kim Minh;

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Thoa - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Hoàng Đại N;

Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 13/01/1988 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nơi cư trú: Thôn L, xã C, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Giáy; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Mạnh Đ (đã chết) và bà Lù Thị D; Bị cáo có vợ thứ nhất là Lù Thanh H (đã ly hôn), vợ thứ hai Nguyễn Thị T sinh năm 1998; Bị cáo có 02 con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, Tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/5/2024. Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Triệu Thị M sinh ngày 09/3/2008. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
  2. Người đại diện theo pháp luật của chị M: Anh Triệu Kiếm P. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

  3. Chị Phùng Thị T1 sinh ngày 23/11/2008. Địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
  4. Người đại diện theo pháp luật của chị T1: Anh Phùng Văn Q. Địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

  5. Chị Hoàng Minh Thư S ngày 26/8/2007. Địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt
  6. Người đại diện theo pháp luật của chị T5: Anh Hoàng Ông N1. Thôn P, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Có mặt.

  7. Anh Lý Láo T2 sinh năm 2005. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  8. Anh Hoàng Ngọc T3 sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  9. Anh Vương Văn Đ1 sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn V, xã Q, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
  10. Chị Lý Thị L sinh năm 2002. Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 28/5/2024 bị cáo Hoàng Đại N cùng vợ là Nguyễn Thị T, Lý Láo T2 (Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Lào Cai), Hoàng Ngọc T3 (địa chỉ thôn L, xã C, huyện B, tỉnh Lào Cai) và một người đàn ông tên T2 ngồi ăn cơm tại nhà Hoàng Đại N. Khi đang ngồi ăn cơm thì có Vương Văn Đ1 (thôn L, xã C, thành phố L) mang loa, đèn nháy đến trả cho Hoàng Ngọc T3 tại nhà Hoàng Đại N. Khoảng 21 giờ sau khi ăn cơm xong thì Hoàng Đại N, Lý Láo T2, Hoàng Ngọc T3 ngồi chơi, còn người tên T2 đi về. Hoàng Đại N rủ Hoàng Ngọc T3, Lý Láo T2 đi vào khu vực thao trường diễn tập của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh L thuộc thôn L, xã C, thành phố L để nghe nhạc. Hoàng Đại N dùng điện thoại vào ứng dụng T4 có tài khoản “Nghĩa Hoàng” gọi cho một người nam giới tên K có tài khoản “A lô là có” để mua 02 viên ma túy kẹo, số còn lại mua ketamin, 02 lon nước coca cola, 01 lọ kẹo cao su với giá 2.900.000 đồng thì người nam giới tên K đồng ý và hẹn có người sẽ gọi lại và mang ma túy đến giao cho N. Hoàng Đại N dùng điện thoại di động vào ứng dụng zalo gọi cho Phùng Thị T1, Hoàng Minh T5 đến nhà chơi, Phùng Thị T1 và Hoàng Minh T5 rủ thêm Triệu Thị M cùng gọi taxi đến nhà Hoàng Đại N. Hoàng Đại N dùng M1 gọi thêm Vương Văn Đ1 rủ đến khu vực thao trường diễn tập của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh L nghe nhạc, sau đó Đ1 rủ thêm Lý Thị L (địa chỉ: thôn M, xã N, huyện B, tỉnh Lào Cai) đi cùng.

Sau đó Hoàng Đại N vay Hoàng Ngọc T3 số tiền 01 triệu và bảo Lý Láo T2 điều khiển xe mô tô BKS 24B2-806.67 chở N đi vào khu vực thao trường diễn tập Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Lào Cai. Khi đi đến khu vực cầu thuộc thôn L, xã C thì N nhận được điện thoại qua ứng dụng Telegram của một người nam giới hẹn nhận ma túy. Hoàng Đại N xuống xe, đi bộ một mình theo đương liên thôn thì gặp một người nam giới ngồi trên xe mô tô, N đưa số tiền 2.900.000 đồng, người nam giới đưa lại cho N 02 lon nước coca, 01 lọ kẹo cao su và nói đặt ma túy ở ven đường gần cầu. Sau khi gặp người nam giới thì N đã quay lại khu vực đầu cầu để lấy ma túy, sau khi lấy được ma túy thì N đi đến vị trí Lý Láo T2 đang chờ và đưa cho T2 700.000 đồng để trả tiền taxi và bảo T2 đi đón Phùng Thị T1, Hoàng Minh T5, Triệu Thị M đi vào khu thao trường diện tập của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh L.

Hoàng Đại N đi vào và gặp Tẩn Láo T6 (chiến sỹ nghĩa vụ, địa chỉ Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai) và hỏi T6 mượn phòng trên tầng 2 nghe nhạc. Hoàng Đại N cầm túi đựng loa, đèn lên tầng 2 của ngôi nhà. Hoàng Đại N lấy loa, đèn ra cắm điện và dùng điện thoại cá nhân kết nối loa nhạc, lấy đĩa sứ và thẻ căn cước công dân mang tên Tẩn Minh Đ2 có trong ba lô đặt lên mặt chiếu, Hoàng Đại N mở gói ma túy thấy bên trong có chứa 02 viên ma túy và 01 túi ma túy chứa các hạt tinh thể rắn là ketamine. Hoàng Đại N mở một lon nước coca cho 01 viên ma túy vào hòa tan, còn 01 viên bẻ thành nhiều mảnh nhỏ rồi đặt vào đĩa sứ; 01 túi nilon ma túy ketamin đặt trên chiếu, N dùng tờ tiền ngân hàng mệnh giá 20.000 đồng cuộn tròn lại để làm ống hít ketamine. T3, T6, Đ2, T1, T5, M, L cùng đi vào phòng ngồi trên chiếu. N nhặt một mảnh ma túy kẹo trên đĩa cho vào miệng rồi lấy lon nước đã pha ma túy để uống và bảo “ai chơi thì tự lấy mà dùng, trong lon nước đã pha kẹo rồi”. Sau đó N cầm túi ma túy ketamin đổ hết lên mặt đĩa sứ rồi dùng bật lửa hơ nóng đáy đĩa và dùng căn cước công dân nghiền hạt ma túy thành bột rồi dùng thẻ căn cước chia ma túy thành các đường thẳng rồi dùng ống bằng tờ tiền đã cuốn hít 02 đường ma túy, sau khi sử dụng xong thì N đặt ma túy xuống chiếu và nói “Ai chơi thì tự kẻ”.

Khoảng 00 giờ 40 phút ngày 29/5/2024 tổ công tá Phòng CSĐT tội phạm về ma túy công an tỉnh L phối hợp với công an xã C kiểm tra và phát hiện trên chiếu có 6 người gồm: Hoàng Đại N, Lý Láo T2, Phùng Thị T1, Hoàng Minh T5, Triệu Thị M, Lý Thị L, còn Vương Văn Đ1, Hoàng Ngọc T3 bỏ trốn.

Tại Kết luận giám định số 224/KL-GĐMT ngày 31/5/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh L kết luận số ma túy còn lại thu giữ ngày 29/5/2024 có khối lượng là 0.405 gam là Ketamine.

Cáo trạng số 03/CT-VKS ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Hoàng Đại N về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai bổ sung nội dung bản cáo trạng truy tố thêm đối với bị cáo Hoàng Đại N về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Hoàng Đại N về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, c khoản 2 điều 255; Điểm s, khoản 1, 2 điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Đại N từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù;

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và không ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ và kết luận giám định, phù hợp với lời khai của những người liên quan, người chứng kiến. Ngày 29/5/2024 bị cáo Hoàng Đại N đã có hành vi khởi xướng, chuẩn bị địa điểm, ma túy, công cụ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho Lý Láo T2, Phùng Thị T1, Hoàng Minh T5, Triệu Thị M, Lý Thị L trong phòng trên tầng 2 ngôi nhà cả Khu thao trường diễn tập của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh L thì bị bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng. Tại thời điểm tổ chức sử dụng ma túy cho các đối tượng trên thì Phùng Thị T1, Hoàng Minh T5, Triệu Thị M đều chưa đủ 18 tuổi. Do vậy bị cáo Hoàng Đại N bị áp dụng tình tiết định khung tăng nặng quy định tai điểm b, c khoản 2 điều 255 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ.

[3] Về hình phạt:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước ta, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố L. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội xử phạt mức hình phạt thật nghiêm khắc để cải tạo, giáo dục bị cáo, qua đó răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự.

[4] Các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bị cáo Hoàng Đại N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hoàng Đại N thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có ông nội là Hoàng A Ý được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì. Vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập vì vậy không phạt bổ sung đối với bị cáo xét thấy là phù hợp.

[6] Về vật chứng vụ án:

Đối với số ma túy còn lại sau trích mẫu giám định, xét thấy K1 thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự là phù hợp.

Đối với 01 loa, 01 đèn nháy là tài sản của anh Hoàng Ngọc T3, tuy nhiên anh T3 không yêu cầu trả lại, các tài sản trên được sử dụng vào việc phạm tội, vì vậy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước;

Đối với 01 đĩa sứ, 01 vỏ lon coca, 01 bật lửa; 01 túi xách màu đen cũ không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp;

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone tạm giữ của Hoàng Đại N, bị cáo sử dụng liên lạc để mua bán ma túy nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

Đối với số tiền 395.000 đồng trong đó có 20.000 đồng bị cáo sử dụng để làm ống hút ketamin, cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước, số tiền còn lại là 375.000 đồng là tiền riêng của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội, tuy nhiên do bị cáo còn phải thi hành khoản tiền án phí, do vậy cần tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo thi hành án, số tiền còn lại trả cho bị cáo.

[7] Đối với các vấn đề khác liên quan trong vụ án:

Đối với Hoàng Ngọc T3: Hoàng Ngọc T3 là người đưa cho bị cáo Hoàng Đại N số tiền 1000.000 đồng, ngoài ra túi đựng loa đèn là của Hoàng Ngọc T3. Tuy nhiên tại lời khai của bị cáo Hoàng Đại N và Hoàng Ngọc T3 đều thể hiện khi Hoàng Ngọc T3 cho Hoàng Đại N vay tiền thì T3 không biết mục đích của N vay là để trả tiền mua ma túy. Hoàng Ngọc T3 không cho N mượn loa, đền mà Hoàng Đại N tự ý mang túi đựng loa, đèn của T3 lên tầng 2 để tổ chức sử dụng ma túy. Ngoài lời khai của bị cáo và các đối tượng liên quan không có tài liệu nào khác để chứng minh. Vì vậy không có căn cứ để xem xét hành vi đồng phạm của Hoàng Ngọc T3.

Đối với Vương Văn Đ1: Vương Văn Đ1 là người mang loa, đèn đến nhà N và là người đón Lý Thị L đến sử dụng ma túy. Tuy nhiên căn cứ lời khai của N, Đ1, T3, L xác định khi Vương Văn Đ1 mang loa, đèn đến mục đích để trả cho T3 vì thời điểm đó T3 ở nhà N nên Đ1 mang loa, đèn đến trả cho T3 tại nhà N. Khi đón Lý Thị Làm Đ3 cùng đến nhà N thì Đ1 không biết trước là đến sử dụng ma túy. Ngoài lời khai của bị cáo và các đối tượng liên quan không có tài liệu nào khác để chứng minh. Vì vậy không có căn cứ để xem xét hành vi đồng phạm của Vương Văn Đ1.

Đối với Lý Láo T2: Lý Láo T2 là người chở Hoàng Đại N đi mua ma túy và là người trả tiền taxi cho T1, T5, M và đón T1, T5, M vào nơi sử dụng ma túy. Quá trình điều tra xác định khi Hoàng Đại N đi mua ma túy thì Lý Láo T2 không biết. Khi Lý Láo T2 đi đón T1, M, T5 thì Hoàng Đại N nói là đón vào đi chơi nghe nhạc nên không có căn cứ để xử lý Lý Láo T2 với vai trò là đồng phạm.

Đối với Lý Láo T2, Phùng Thị T1, Triệu Thị M, Hoàng Minh T5 là các đối tượng được thụ hưởng, vì vậy hành vi của các đối tượng trên không có đủ yếu tố cấu thành tội phạm, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các đối tượng trên, xét thấy là phù hợp.

Đối với Hoàng Ngọc T3, Vương Văn Đ1: Ngày 29/5/2024 khi cơ quan Công an bắt quả tang các đối tượng trên thì Hoàng Ngọc T3, Vương Văn Đ1 không có mặt, tại thời điểm xét nghiệm chất ma túy đối với T3, Đ1 là âm tính nên không có căn cứ xử phạt hành chính đối với T3 và Đ1, xét thấy là phù hợp.

Đối với 01 căn cước công dân mang tên Tẩn Minh Đ2, Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữ để xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau, là phù hợp.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy và người đàn ông đã giao ma túy cho Hoàng Đại N, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu nào để chứng minh, do vậy không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

[8] Về đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đề nghị gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về đề nghị của Kiểm sát viên về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo xét thấy là phù hợp.

[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Hoàng Đại N phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Hoàng Đại N 08 (năm) tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 29/5/2024.
  2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy: 0,317 gam ma túy Ketamine còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng K2 Công an tỉnh L. Trên một mặt bì thư có ghi: “Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Đại N, Lý Láo T2, Lý Thị L, Hoàng Minh T5, Triệu Thị M, Phùng Thị T1 tại thôn L, xã C, thành phố L”;

    Tịch thu nộp Ngân sách nhà nước: 01 loa nhãn hiệu Harman Kardon đã cũ, đã qua sử dụng; 01 đèn nháy nhãn hiệu Tahoto đã cũ, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (loại 8 Plus) thu giữ của Hoàng Đại N;

    Tịch thu tiêu hủy: 01 đĩa sứ đã qua sử dụng, 01 vỏ lon coca đã qua sử dụng, móp méo; 01 bật lửa đã cũ đã qua sử dụng; 01 túi xách màu đen đã cũ, đã qua sử dụng;

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/02/2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L);

    Tịch thu số tiền 20.000 đồng của bị cáo Hoàng Đại N nộp Ngân sách nhà nước; Tiếp tục tạm giữ số tiền 200.000 đồng của bị cáo Hoàng Đại N để đảm bảo thi hành án, trả lại cho bị cáo số tiền 175.000 đồng, hiện toàn bộ số tiền trên đang tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.9049863 của Công an Thành phố L theo giấy nộp tiền ngày 24/02/2025.

  3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

 

 

 

 

Hà Thị Anh

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND tỉnh Lào Cai;
  • - VKS thành phố Lào Cai;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Lào Cai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Lào Cai;
  • - Bị cáo; Người liên quan;
  • - Chi cục THADS TP Lào Cai;
  • - Lưu HS; TA
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Đại N tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger