Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 41/2025/HS-PT

Ngày: 06-3-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phú Thọ.

Ông Phạm Minh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Liệt - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 03 tháng 3 và ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 282/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Tô Tài S và các đồng phạm. Do có kháng cáo của bị cáo Tô Tài S, Dương Thị Cẩm L, Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Vân K, Trần Văn T, Nguyễn Thị Ngọc Q, Phạm Thị N và Trần Thị Thiếu N1 với Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2024/HS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Tô Tài S (Tên gọi khác: Sơn C), sinh năm 1984 tại thành phố Cần Thơ; Nơi cư trú: Số H, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: T (chết) và bà Tô Ngọc L2 (chết); Vợ: Phan Thị Bích L3, sinh năm 1989; Con: chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 31/3/2005 bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 năm tù về tội “Giết người”. Trong quá trình chấp hành án tiếp tục phạm tội “Trốn khỏi nơi giam”, ngày 23/5/2006 bị Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xử phạt 02 năm tù. Tổng hợp hình phạt chưa chấp hành của Bản án số 499/HSPT ngày 31/3/2005 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là 08 năm 10 tháng 16 ngày. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 26/01/2014 và ngày 22/6/2015, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 05/10/2019, nhưng chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự; Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Dương Thị Cẩm L, sinh năm 1975 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số G, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở: Số G, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Văn H (chết) và bà Lê Thị H1; Chồng: Nguyễn Hoàng T1, sinh năm 1978; Con: có 02 người, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2008; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  3. Họ và tên: Nguyễn Văn V (Tên gọi khác: T6), sinh năm 1979 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số E, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn N2 và bà Bùi Thị A (chết); Vợ: Nguyễn Thị Kim H2, sinh năm 1974; Con: có 01 người sinh năm 2000; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  4. Họ và tên: Nguyễn Kim L1, sinh năm 1982 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số C, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn B và bà Phạm Thị N3 (chết); Chồng: Không rõ; Con: có 01 người sinh năm 2007; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  5. Họ và tên: Nguyễn Thị Vân K, sinh năm 1972 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số E, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ văn hóa: 8/12 ; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: N (chết) và bà Lý Thị Ánh V1; Chồng: Trương Hoàng K1, sinh năm 1971; Con: có 02 người, lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 2001; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  6. Họ và tên: Trần Văn T (Tên gọi khác: N4), sinh năm 1991 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số A, ấp V, xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn P và bà Trần Kim H3; Vợ, con: chưa có; Tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 02/11/2020 bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã thực hiện việc nộp phạt vào ngày 19/11/2020; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  7. Họ và tên: Nguyễn Thị Ngọc Q, sinh năm 1987 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số C, ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm nail; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn C1 và bà Nguyễn Thị T2; Chồng: Lê Huy H4 (chết); Con: có 02 người, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2020; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  8. Họ và tên: Phạm Thị N, sinh năm 1978 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số D, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn T3 (chết) và Trần Thị H5 (chết); Chồng: Lâm Văn H6, sinh năm 1972; Con: có 02 người, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2005; Tiền sự: Ngày 16/3/2023 bị Công an huyện L, tỉnh Đồng Tháp xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã thực hiện việc nộp phạt cùng ngày 16/3/2023; Tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không; Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
  9. Họ và tên: Trần Thị Thiếu N1, sinh năm 1981 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Số D, ấp B, xã B, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn M và bà Lê Thị M1; Chồng: Dương Văn S1, sinh năm 1970; Con: có 02 người, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2014; Tiền sự: Ngày 13/3/2023 bị Công an huyện L xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã thực hiện việc nộp phạt vào ngày 15/3/2023; Tiền án: Không; Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T theo yêu cầu: Luật sư Nguyễn Hoàng G – Văn phòng L4, thuộc đoàn luật sư tỉnh Đồng Tháp.

Trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Thị Kim H2, Huỳnh Thị Cẩm T4 và Nguyễn Thị Thanh T5 không kháng cáo; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Dương Thị Cẩm L, Tô Tài S và Trần Văn T là chị em, bạn bè quen biết với nhau. S biết L thường cho người khác mượn căn nhà tọa lạc ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp làm địa điểm đánh bạc để lấy tiền xâu.

Khoảng 14 giờ ngày 10/5/2023, trong lúc uống cà phê, S hỏi L cho S, T và một số người khác sử dụng căn nhà của L để đánh bạc, L đồng ý. Sau khi uống cà phê xong, L cùng người thân đi huyện C, thành phố Cần Thơ dự đám giỗ, còn S và T đi bộ đến trước cửa nhà L thì gặp Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Vân K, Nguyễn Thị Ngọc Q và Nguyễn Thị Thanh T5. Lúc này, cả nhóm rủ nhau đi vào phòng ngủ của L để tham gia đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài tây 03 lá (bài cào). Một lúc sau, Nguyễn Thị Kim H2 (vợ của V), Phạm Thị N, Trần Thị Thiếu N1 và Huỳnh Thị Cẩm T4 cũng đến nhà L để cùng tham gia đánh bạc.

Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm bắt đầu tham gia đánh bạc, L1 và V là 02 người thay phiên nhau làm cái, nếu L1 làm cái thì V đặt cược và V làm cái thì L1 đặt cược còn S, K, T, Quyền, N, N1, T4 và T5 tham gia đặt cược trực tiếp ăn thua với người cầm cái. Riêng H2 thì giúp V gom bài, xem bài và chung chi tiền cho những người đặt cược mỗi khi V cầm cái. Đến khoảng 16 giờ 33 phút cùng ngày, L1 và V mỗi người đã cầm cái và đặt cược được khoảng 12 ván. Trong đó: L1 sử dụng 1.000.000 đồng, thua 200.000 đồng; V sử dụng 4.000.000 đồng, không thắng không thua; S sử dụng 200.000 đồng, đặt cược 02 ván vào tụ bài của L1, mỗi ván 100.000 đồng, thua 200.000 đồng; K sử dụng 4.500.000 đồng, đặt cược 09 ván, mỗi ván 200.000 đồng đến 500.000 đồng, thua 3.500.000 đồng; T sử dụng 1.500.000 đồng, đặt cược 11 ván, mỗi ván 200.000 đồng, thắng được 2.000.000 đồng; Quyền sử dụng 1.500.000 đồng, đặt cược 07 ván, mỗi ván 100.000 đồng đến 200.000 đồng, thua 500.000 đồng; N sử dụng 500.000 đồng, đặt cược 07 ván, mỗi ván 100.000 đồng, thắng được 100.000 đồng; N1 sử dụng 100.000 đồng, đặt cược 02 ván theo tụ bài của V khi V cầm cái, mỗi ván 100.000 đồng, không thắng không thua; T4 sử dụng 500.000 đồng, đặt cược 04 ván, mỗi ván 100.000 đồng, thắng 200.000 đồng; T5 sử dụng 100.000 đồng, đặt cược 01 ván vào tụ bài của Q (chưa có kết quả thắng thua) thì bị Công an bắt quả tang. Riêng Nguyễn Hoàng T6 và Nguyễn Thanh N5 có mặt tại hiện trường nhưng không có tham gia đánh bạc. Trong lúc đánh bạc, S là người cung cấp bài và lấy tiền xâu từ L1 và V mỗi ván từ 30.000 đồng đến 50.000 đồng để vào hộp giấy giùm cho L. Khi các đối tượng chuẩn bị chơi ván tiếp theo thì bị lực lượng Công an huyện L bắt quả tang.

Tại hiện trường Công an đã thu giữ vật chứng gồm:

  • Trên chiếu bạc:
    • + 51 lá bài tây (đã qua sử dụng).
    • + Tiền Việt Nam 100.000 đồng.
  • Trong tủ nhựa gần chiếu bạc: Tiền Việt Nam 13.800.000 đồng, trong đó của L 1.800.000 đồng, của Nguyễn Hoàng T1 (chồng L) 12.000.000 đồng.
  • Trên người của Tô Tài S 11.600.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia N8210, màu đen, loại bàn phím;
  • Trần Văn T 10.430.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Oppo;
  • Nguyễn Văn V 10.000.000 đồng;
  • Nguyễn Kim L1 36.500.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Samsung loại gập màn hình, màu xám xanh;
  • Nguyễn Thị Vân K 30.600.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu iPhone 13 Pro, số Imei 359206400592366, bên trong có gắn sim số 0961428063;
  • Nguyễn Thị Ngọc Q 4.500.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu iPhone 13 Promax, số Imei 352396471054375;
  • Phạm Thị N 4.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu S2, mặt sau màu đen, 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh;
  • Trần Thị Thiếu N1 1.450.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia, loại bàn phím, màu xanh dương;
  • Huỳnh Thị Cẩm T4 8.700.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu iPhone màu hồng;
  • Nguyễn Thị Kim H2 4.300.000 đồng;
  • Nguyễn Thị Thanh T5 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đen, ốp lưng màu cam;
  • Nguyễn Hoàng T6 01 điện thoại di động hiệu iPhone 14 Promax, số I 355656665215190.
  • Nguyễn Thanh N5 3.000.000 đồng.

Đối với tiền xâu thì không thu giữ được.

Trong quá trình điều tra, những người tham gia đánh bạc còn tự nguyện giao nộp tiền để đảm bảo thi hành án gồm: Tô Tài Sơn 200.000 đồng; Nguyễn Văn V 4.000.000 đồng; Nguyễn Thị Vân K 4.500.000 đồng; Trần Văn T 1.500.000 đồng; Phạm Thị N 500.000 đồng; N1 100.000 đồng; Huỳnh Thị Cẩm T4 500.000 đồng. Tổng cộng là 11.300.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 41/2024/HS-ST ngày 10 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, đã quyết định:

  1. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
  2. Tuyên bố: Bị cáo Tô Tài S phạm tội “Gá bạc”

    Xử phạt: Bị cáo Tô Tài S mức án 05 năm tù (Năm năm tù).

    Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố: Bị cáo Tô Tài S phạm tội “Đánh bạc”

    Xử phạt: Bị cáo Tô Tài S mức án 03 năm tù (Ba năm tù).

    Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự:

    Tổng hợp hình phạt của các tội “Gá bạc” và “Đánh bạc”, bị cáo Tô Tài S phải chấp hành hình phạt chung là 08 năm tù (Tám năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  3. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
  4. Tuyên bố: Bị cáo Dương Thị Cẩm L, phạm tội “Gá bạc”

    Xử phạt: Bị cáo Dương Thị Cẩm L mức án 01 năm tù (Một năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  5. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
  6. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1 phạm tội “Đánh bạc"

    + Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V mức án 09 tháng tù (Chín tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    + Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Kim L1 mức án 09 tháng tù (Chín tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  7. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
  8. Tuyên bố: Các bị cáo Thị Vân K, Trần Văn T, Nguyễn Thị Ngọc Q, Phạm Thị N, Trần Thị Thiếu N1 phạm tội “Đánh bạc”

    + Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Vân K mức án 08 tháng tù (Tám tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    + Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T mức án 07 tháng tù (Bảy tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    + Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q mức án 07 tháng tù (Bảy tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    + Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị N mức án 06 tháng tù (Sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    + Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Thiếu N1 mức án 06 tháng tù (Sáu tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên phạt các bị cáo Nguyễn Thị Kim H2, Nguyễn Thị Thanh T5 và Huỳnh Thị Cẩm T4 mỗi bị cáo 06 tháng tù (sáu tháng tù) nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm cùng về tội “Đánh bạc”; tuyên về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, bị cáo Tô Tài S kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, bị cáo Nguyễn Kim L1 kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Các ngày 21 và 22 tháng 8 năm 2024, các bị cáo Dương Thị Cẩm L và Nguyễn Thị Vân K có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ.

Các ngày 13 và 22 tháng 8 năm 2024, các bị cáo Nguyễn Văn V, Trần Văn T, Phạm Thị N và Trần Thị Thiếu N1 kháng cáo xin được hưởng án treo.

Ngày 12 tháng 8 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm: Hành vi của bị cáo Tô Tài S bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Gá bạc” và “Đánh bạc” theo điểm d khoản 2 Điều 322 và điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự; bị cáo Dương Thị Cẩm L bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Vân K, Trần Văn T, Nguyễn Thị Ngọc Q, Phạm Thị N và Trần Thị Thiếu N1 bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Tô Tài S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo S trình bày vợ bị cáo hiện đang mang thai, bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi cha mẹ già nhưng không có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cáo Dương Thị Cẩm L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ, có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo S, L là phù hợp với tính chất, hành vi, mức độ phạm tội của các bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Tô Tài S, Dương Thị Cẩm L.

Bị cáo Nguyễn Kim L1 kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo Nguyễn Thị Vân K có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ, có cung cấp tình tiết mới là cha mẹ chồng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Các bị cáo Nguyễn Văn V, Phạm Thị N và Trần Thị Thiếu N1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo, có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo V là bộ đội phục viên, là cháu của ông Phạm Văn Đ được tặng huân chương kháng chiến, bị cáo được tặng giấy khen trong hoạt động Công đoàn; bị cáo N đang nuôi người chị bị bệnh bẩm sinh; bị cáo N1 bị bệnh tim độ hai. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng đối với các bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Vân K, Phạm Thị N và Trần Thị Thiếu N1, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Vân K, Phạm Thị N và Trần Thị Thiếu N1, giảm cho các bị cáo mỗi bị cáo từ 01 đến 03 tháng tù.

Bị cáo Trần Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo, có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ bị cáo mới chết, cha bị cáo bị bệnh tiểu đường cần phải có người chăm sóc; bản thân bị cáo là bộ đội phục viên, là lao động chính duy nhất trong gia đình.

Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ, có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng bị cáo chết, bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình nuôi hai con còn nhỏ và cha mẹ chồng tuổi cao.

Các tình tiết mà các bị cáo T, Quyền cung cấp là các tình tiết được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng đối với các bị cáo. Các bị cáo T, Quyền có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và với hoàn cảnh gia đình của các bị cáo nêu trên, xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo thường trú giám sát, giáo dục cũng đủ để cho các bị cáo rèn luyện, sửa chữa để trở thành người tốt, có ý thức chấp hành pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Thị Ngọc Q, giữ y mức hình phạt tù, cho các bị cáo T, Quyền được hưởng án treo.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Văn T phát biểu quan điểm: Thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên. Đồng thời vị luật sư nêu ra các tình tiết giảm nhẹ như trong quá trình điều tra cũng như tại các phiên toà sơ, phúc thẩm, bị cáo T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bản thân bị cáo là bộ đội phục viên, là lao động chính duy nhất trong gia đình có hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ bị cáo mới chết, cha bị cáo bị bệnh tiểu đường cần phải có người chăm sóc để xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

Trong phần tranh luận, các bị cáo không tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, các bị cáo Tô Tài S, Dương Thị Cẩm L, Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Vân K, Trần Văn T, Nguyễn Thị Ngọc Q, Phạm Thị N và Trần Thị Thiếu N1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai các bị cáo đồng phạm và người liên quan cùng các chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Khoảng 14 giờ ngày 10/5/2023, Dương Thị Cẩm L có hành vi sử dụng nhà ở của mình tọa lạc tại ấp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp cho Tô Tài S, Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Kim H2, Nguyễn Thị Vân K, Trần Văn T, Nguyễn Thị Ngọc Q, Phạm Thị N, Trần Thị Thiếu N1, Huỳnh Thị Cẩm T4 và Nguyễn Thị Thanh T5 chơi đánh bạc được ăn thua bằng tiền, dưới hình thức chơi bài tây 03 lá để lấy tiền xâu. Đến 16 giờ 33 phút cùng ngày, trong lúc cả nhóm đang đánh bạc thì bị bắt quả tang, tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 13.900.000 đồng. Ngoài việc tham gia đánh bạc, Tô Tài S còn hỏi mượn nhà bị cáo L để cho các bị cáo khác tham gia đánh bạc và thực hiện hành vi lấy tiền xâu giùm cho Dương Thị Cẩm L mỗi ván từ 30.000 đồng đến 50.000 đồng.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Tô Tài S là người đã chủ động hỏi mượn nhà của bị cáo L để cho bị cáo và các bị cáo khác tham gia đánh bạc (tổng cộng 11 người), bị cáo còn thu gom bài cũ lấy bài mới đưa cho các bị cáo đánh bạc và lấy tiền xâu dùm cho bị cáo L, khi các bị cáo đang tham gia đánh bạc thì bị Công an bắt quả tang, tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 13.900.000 đồng, trong đó bị cáo sử dụng 200.000 đồng vào việc đánh bạc. Bị cáo có ba tiền án phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gá bạc” và “Đánh bạc” theo điểm d khoản 2 Điều 322 và điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Dương Thị Cẩm L cho bị cáo S hỏi mượn nhà bị cáo để cho các bị cáo khác đánh bạc thì bị cáo đồng ý, các bị cáo tham gia đánh bạc (tổng cộng 11 người) sử dụng nhà của bị cáo tham gia chơi đánh bạc để bị cáo lấy tiền xâu thì bị Công an bắt quả tang, tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 13.900.000 đồng. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Vân K, Trần Văn T, Nguyễn Thị Ngọc Q, Phạm Thị N, Trần Thị Thiếu N1 chơi đánh bạc được ăn thua bằng tiền, dưới hình thức chơi bài tây 03 lá với số tiền dùng để đánh bạc là 13.900.000 đồng. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Tô Tài S về các tội “Gá bạc” và “Đánh bạc” theo điểm d khoản 2 Điều 322 và điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự; xét xử bị cáo Dương Thị Cẩm L về tội “Gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; xét xử các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Vân K, Trần Văn T, Nguyễn Thị Ngọc Q, Phạm Thị N và Trần Thị Thiếu N1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Tô Tài S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo S trình bày vợ bị cáo hiện đang mang thai, bị cáo là lao động chính trong gia đình phải nuôi cha mẹ già nhưng không có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cáo Dương Thị Cẩm L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ, có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn. Tuy nhiên, xét mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo S, L là phù hợp với tính chất, hành vi, mức độ phạm tội của các bị cáo. Do đó, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Tô Tài S, Dương Thị Cẩm L.

Bị cáo Nguyễn Kim L1 kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo, có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo Nguyễn Thị Vân K có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ, có cung cấp tình tiết mới là cha mẹ chồng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Các bị cáo Nguyễn Văn V, Phạm Thị N và Trần Thị Thiếu N1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo, có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn; bị cáo V là bộ đội phục viên, là cháu của ông Phạm Văn Đ được tặng huân chương kháng chiến, bị cáo được tặng giấy khen trong hoạt động Công đoàn; bị cáo N đang nuôi người chị bị bệnh bẩm sinh; bị cáo N1 bị bệnh tim độ hai. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng đối với các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Vân K, Phạm Thị N và Trần Thị Thiếu N1, sửa phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Vân K, Phạm Thị N và Trần Thị Thiếu N1.

Bị cáo Trần Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo, có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn, mẹ bị cáo mới chết, cha bị cáo bị bệnh tiểu đường cần phải có người chăm sóc; bản thân bị cáo là bộ đội phục viên, là lao động chính duy nhất trong gia đình.

Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q kháng cáo với nội dung xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ, có cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình khó khăn, chồng bị cáo chết, bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình nuôi hai con còn nhỏ và cha mẹ chồng tuổi cao.

Các tình tiết mà các bị cáo T, Quyền cung cấp là các tình tiết được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa áp dụng đối với các bị cáo. Các bị cáo T, Quyền có nhân thân tốt, có địa chỉ rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và với hoàn cảnh gia đình của các bị cáo nêu trên, xét thấy không cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo thường trú giám sát, giáo dục cũng đủ để cho các bị cáo rèn luyện, sửa chữa để trở thành người tốt, có ý thức chấp hành pháp luật. Do đó, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho các bị cáo T, Q được hưởng án treo.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với các bị cáo là hoàn toàn phù hợp nên chấp nhận.

Xét lời bào chữa của vị luật sư đối với bị cáo T là hoàn toàn phù hợp nên chấp nhận.

[5] Do kháng cáo của các bị cáo Tô Tài S, Dương Thị Cẩm L, không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Vân K, Trần Văn T, Nguyễn Thị Ngọc Q, Phạm Thị N và Trần Thị Thiếu N1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
  2. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Tô Tài S;

    Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, phạt tiền hoặc cải tạo không giam giữ của bị cáo Dương Thị Cẩm L. Giữ nguyên phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Tô Tài S, Dương Thị Cẩm L.

    Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Vân K, Phạm Thị N và Trần Thị Thiếu N1. Sửa phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Vân K, Phạm Thị N và Trần Thị Thiếu N1.

    Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Thị Ngọc Q. Sửa phần quyết định của bản án hình sự sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo T và Q.

  3. Tuyên bố bị cáo Tô Tài S phạm tội “ Gá bạc” và “Đánh bạc”; Bị cáo Dương Thị Cẩm L phạm tội “Gá bạc”; Các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Vân K, Trần Văn T, Nguyễn Thị Ngọc Q, Phạm Thị N và Trần Thị Thiếu N1 cùng phạm tội “Đánh bạc”.
  4. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt: Bị cáo Tô Tài S 05 (năm) năm tù về tội “Gá bạc”.

    Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt: Bị cáo Tô Tài S 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”.

    Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự:

    Tổng hợp hình phạt chung cho hai tội, buộc bị cáo Tô Tài S phải chấp hành là 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt: Bị cáo Dương Thị Cẩm L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn V 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Kim L1 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng, tính từ ngày 06/3/2025.

    Giao bị cáo Trần Văn T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo Trần Văn T vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

    Trường hợp bị cáo Trần Văn T thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q 07 (bảy) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng tính từ ngày 06/3/2025.

    Giao bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

    Trường hợp bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Q thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

    Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Vân K 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị N 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Thiếu N1 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  6. Các bị cáo Tô Tài S, Dương Thị Cẩm L mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

    Các bị cáo Nguyễn Văn V, Nguyễn Kim L1, Nguyễn Thị Vân K, Trần Văn T, Nguyễn Thị Ngọc Q, Phạm Thị N và Trần Thị Thiếu N1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  7. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Lai Vung (18);
  • - VKSND huyện Lai Vung;
  • - Chi cục THADS huyện Lai Vung;
  • - CQTHAHS Công an Tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CAT;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo; NBC;
  • - Lưu VT, HSVA (4) (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-PT ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự phúc thẩm (tội gá bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 41/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Gá bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc và gá bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger