Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN LONG THÀNH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 41/2025/HS-ST

Ngày: 06/3/2025

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Trúc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Ba

2. Bà Lý Thị Bạch Tuyết

Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa:

Ông Lê Trọng Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Trung T, sinh ngày 17/6/1991 tại Đồng Nai; Căn cước công dân số: [...], ngày cấp 20/9/2024, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi đăng ký thường trú: Tổ G, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nơi sinh sống: Tổ G, khu A, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn V và bà Lâm Thị Ánh H (đã chết); Bị cáo có vợ tên Thân Thị Thu S, có 02 con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2016; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 18/5/2021 bị Công an xã L hành chính 2.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đóng phạt xong ngày 13/01/2024.

Nhân thân: Ngày 25/02/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành xử phạt 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (Tại bản án số 22/2011/HSST ngày 25/02/2011), chấp hành xong ngày 18/01/2012, đóng án phí xong ngày 25/4/2011.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 01/12/2024, tạm giữ từ ngày 01/12/2024 và chuyển tạm giam đến nay tại Phân trại tạm giam khu vực L (có mặt).

- Bị hại: Công ty TNHH S1 (Việt Nam).

Địa chỉ: Khu công nghiệp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền:

  1. Ông Fujita N, sinh năm 1967 – Chức vụ: Trưởng phòng. (có mặt).
  2. Ông Phan Hiếu N1, sinh năm 1992 – Chức vụ: Trưởng bộ phận. (có mặt).
  3. Ông Nguyễn Trọng N2, sinh năm 1998 – Chức vụ: Nhân viên. (có mặt).

Địa chỉ liên lạc: Công ty TNHH S1 (Việt Nam), Khu công nghiệp L, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có nghề nghiệp và cần tiền tiêu xài nên Nguyễn Trung T nảy sinh trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 30/11/2024 T điều khiển xe máy không có biển số, nhãn hiệu HADO, màu nâu, số máy: HD100FMG8310910, số khung: VHSDCG014HS009236 mang theo 01 kìm cắt sắt đến khu vực Xưởng số 06 thuộc Nhà máy số 01 thuộc Công ty TNHH S2, Khu công nghiệp L thuộc khu A, xã L, huyện L để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, T đi vào trong nhà xưởng thì thấy 01 đèn pin bằng kim loại, 01 tua vít màu cam, 01 điếu vặn loại 08mm bằng kim loại, 01 điếu vặn ốc loại 10mm bằng kim loại để sẵn trong nhà xưởng nên lấy mang theo rồi trèo lên trần nhà xưởng dùng kìm cắt 01 đoạn dây điện dài 12m loại vỏ nhựa, lõi đồng có tiết diện là 1x200mm2. Đến khoảng 03 giờ 05 phút ngày 01/12/2024, T mang theo số dây cáp điện vừa trộm cắp được lên xe máy chở đi cất giấu thì bị Tổ tuần tra của Đồn Công an K và nhân viên bảo vệ của Công ty TNHH D bắt quả tang lập hồ sơ ban đầu chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L xử lý theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 123 /KL-HĐĐGTS ngày 05/12/2024 của Hội đồng định giá huyện L xác định tài sản bị trộm cắp có trị giá hiện tại là 4.875.000 đồng.

Về vật chứng, tài sản tạm giữ:

  • + 02 cuộn dây cáp điện vỏ nhựa, lõi đồng có tiết diện là 1x200mm2, 01 cuộn 4,5m, 01 cuộn 7,5m có tổng trọng lượng 32,5 kg.
  • + 01 xe mô tô không biển số, hiệu HADO, màu nâu, số máy HD100FMG8310910, số khung: VHSDCG014HS009236.
  • + 01 kìm cắt sắt, cán bằng nhựa được bọc băng keo đen chiều dài 41cm. +01 đèn pin bằng kim loại.
  • +01 tua vít màu cam.
  • +01 điếu vặn loại 08mm bằng kim loại.
  • + 01 điếu vặn ốc loại 10mm bằng kim loại.

Trước cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, bị cáo Nguyễn Trung T đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ thu thập đúng trình tự pháp luật có tại hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 36/CT-VKSLT ngày 16 tháng 01 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Trung T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T từ 10 tháng đến 12 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại 02 cuộn dây cáp điện vỏ nhựa màu đen, lõi bằng kim loại đồng có tiết diện và 1x200mm2 (01 cuộn dài 4,5m, 01 cuộn 7,5m) có tổng trọng lượng 32,5 kg; 01 đèn pin bằng kim loại; 01 tua vít màu cam; 01 điếu vặn ốc loại 08mm bằng kim loại; 01 điếu vặn ốc loại 10mm bằng kim loại cho Công ty TNHH S2.

Đối với xe mô tô không biển số, hiệu HADO, màu nâu, số máy: D100FMG8310910, số khung: VHSDCG014HS009236, Nguyễn Trung T sử dụng vào mục đích Trộm cắp tài sản có nguồn gốc của T mua lại từ một người không rõ họ tên địa chỉ. Tra cứu số khung và số máy trên hệ thống dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện thì không có trong cơ sở dữ liệu, do đó cần tiếp tục xác minh xử lý sau.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH S1 (Việt Nam) đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận: Do cần tiền tiêu xài nên khoảng 23 giờ 00 phút ngày 30/11/2024, T đi đến Xưởng số 06 thuộc Nhà máy số 01 thuộc Công ty TNHH S1 (Việt Nam), Khu công nghiệp L thuộc khu A, xã L, huyện L dùng kìm cắt sắt mà T đã chuẩn bị từ trước để cắt 01 đoạn dây điện dài 12m loại vỏ nhựa, lõi đồng có tiết diện là 1x200mm có trị giá 4.875.000 đồng. Đến khoảng 03 giờ 05 phút ngày 01/12/2024, T mang số dây cáp điện vừa trộm cắp được lên xe máy chở đi cất giấu thì bị Tổ tuần tra của Đồn Công an K và nhân viên bảo vệ của Công ty TNHH D bắt quả tang.

Bị cáo T là người có năng lực trách nhiệm hình sự, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của tổ chức được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng do không có nghề nghiệp, lười lao động nên đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác để thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân. Bị cáo đã chuẩn bị sẵn kìm cắt sắt làm phương tiện phạm tội, ban đêm trèo lên trần nhà cắt dây cáp điện đang hoạt động của công ty, bất chấp nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của bản thân, thể hiện sự liều lĩnh nhằm chiếm đoạt tài sản của bị cáo. Do đó, đối với bị cáo, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Bị cáo từng bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích” và bị xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học cho bản thân, nhưng bị cáo lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật không nghiêm.

Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm về mặt dân sự nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại 02 cuộn dây cáp điện vỏ nhựa màu đen, lõi bằng kim loại đồng có tiết diện và 1x200 mm2 (01 cuộn dài 4,5m, 01 cuộn 7,5m) có tổng trọng lượng 32,5 kg; 01 đèn pin bằng kim loại; 01 tua vít màu cam; 01 điếu vặn ốc loại 08mm bằng kim loại; 01 điếu vặn ốc loại 10mm bằng kim loại cho Công ty TNHH S1 (Việt Nam) là đúng quy định của pháp luật..

Đối với xe mô tô không biển số, hiệu HADO, màu nâu, số máy: D100FMG8310910, số khung: VHSDCG014HS009236, Nguyễn Trung T sử dụng vào mục đích trộm cắp tài sản là tài sản của T mua lại từ một người không rõ họ tên địa chỉ. Tra cứu số khung và số máy trên hệ thống dữ liệu đăng ký quản lý phương tiện thì không có trong cơ sở dữ liệu, do đó Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
    Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
    Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2024.
  2. Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Long Thành;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Long Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Long Thành;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

 

Nguyễn Thị Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 41/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger