Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/DS-PT

Ngày: 05 - 3 - 2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Khánh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế.

Ông Hoàng Qúy Sửu.

- Thư ký phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Thành Huế - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên:

Bà Đỗ Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 28/02/2025 và ngày 05/3/2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 225/2024/TLPT-DS ngày 18/11/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 30/2025/QĐ-PT ngày 10/02/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1951 (vắng mặt).

    Địa chỉ: Xóm T, xã M, TP ., tỉnh Thái Nguyên.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

    Ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1984 (có mặt).

    Địa chỉ: Xóm T, xã M, TP ., tỉnh Thái Nguyên.

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1952 (có mặt).

    Địa chỉ: Xóm T, xã M, TP ., tỉnh Thái Nguyên.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:

    Bà Phan Thu D, sinh năm 1973 (có mặt).

    Địa chỉ: Phường Đ, TP ., tỉnh Thái Nguyên.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    • - Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1976 (có mặt).
    • - Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1973 (có mặt).
    • - Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1984 (có mặt).
    • - Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1977 (vắng mặt).
    • - Bà Bùi Thị Á, sinh năm 1983 (vắng mặt).
    • - Bà Trịnh Thị C1, sinh năm 1981 (vắng mặt).

    Đều có địa chỉ: Xóm T, xã M, TP ., tỉnh Thái Nguyên.

  4. Người làm chứng:

    • - Ông Hoàng Văn Đ1, sinh năm 1951 (vắng mặt).
    • - Ông Ngô Văn S, sinh năm 1951 (có mặt).
    • - Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1954 (có mặt).
    • - Ông Dương Văn P, sinh năm 1936 (vắng mặt).
    • - Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1949 (vắng mặt).
    • - Bà Ngô Thị K1, sinh năm 1942 (vắng mặt).
    • - Ông Lương Đình C2, sinh năm 1950 (có mặt).

    Đều có địa chỉ: Xóm T, xã M, TP ., tỉnh Thái Nguyên.

    • - Ông Trần Quang M, sinh năm 1959 (có mặt).
    • - Bà Đặng Thị L, sinh năm 1962 (có mặt).

    Đều có địa chỉ: Xóm Đ, xã M, TP ., tỉnh Thái Nguyên.

    • - Bà Ngô Thị Đ2, sinh năm 1961 (có mặt).

    Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường Đ, TP ., tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Thị N có chồng là ông Nguyễn Văn S1 (sinh năm 1942, chết ngày 13/10/2003). Bà N và ông S1 kết hôn năm 1972 và có 03 người con chung là các anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1973; Nguyễn Văn H, sinh năm 1976 và Nguyễn Văn T, sinh năm 1984.

Trong quá trình sinh sống tại xã M, TP ., tỉnh Thái Nguyên, bà N và ông S1 đã tạo lập được khối tài sản chung là toàn bộ diện tích 4.316m², tại thửa đất số 141, tờ bản đồ số 99-II, địa chỉ xóm T, xã M, TP ., tỉnh Thái Nguyên. Diện tích đất nêu trên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 252310, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2026 QSDĐ/154/QĐ-UBND do UBND huyện P, tỉnh Bắc Thái (nay là UBND thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) cấp ngày 10/9/1992 mang tên ông Nguyễn Văn S1. Kể từ thời điểm được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay gia đình bà N vẫn trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất được cấp.

Đối với việc tranh chấp đất với bị đơn là ông Nguyễn Văn Đ, lý do là thửa đất của bà N, ông S1 có phần giáp ranh chạy dài cả trăm mét với thửa đất nhà ông Đ nên bà N không xây dựng tường bao vì chưa có điều kiện kinh tế và cũng tin tưởng anh em trong gia đình (ông Đ là em ruột ông S1).

Tuy nhiên, trước năm 2000, ông Đ đã trồng cây lấn sang phần đất của gia đình bà N. Việc làm của ông Đ đã bị gia đình bà N phát hiện, nhắc nhở nhưng thời điểm đó, ông S1 còn sống và nể tình anh em nên gia đình bà N để ông Đ tiếp tục canh tác trên phần đất của gia đình, đợi khi nào ông Đ thu hoạch cây thì yêu cầu trả lại. Năm 2003, ông S1 chết, ông Đ vẫn tiếp tục sử dụng phần đất của gia đình bà N để trồng cây, cho dù gia đình bà N đã nhiều lần đề nghị ông Đ trả phần đất trồng cây nêu trên. Đến những năm 2022, 2023, ông Đoàn chủ Đ3 đào rãnh nước ngăn cách để phân chia đất, gia đình bà N tiếp tục yêu cầu ông Đ trả lại phần đất trên nhưng ông Đ không nhất trí trả lại.

Sau khi hai gia đình bà N và ông Đ không tự hòa giải được, bà N đã đề nghị lãnh đạo xóm T tiến hành hòa giải. Tuy nhiên, ông Đ vẫn cho rằng phần đất trên là của nhà ông Đ, không trả lại. Sau đó, bà N đã nộp đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất. UBND xã M đã tổ chức hòa giải, ông Đ vẫn cho rằng là đất của gia đình ông, mặc dù toàn bộ phần diện tích đất thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 99-II đã được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn S1. Nay, bà N yêu cầu ông Đ trả lại phần diện tích đất 620 m² (theo bản vẽ hiện trạng của Công ty CP T2) lấn chiếm của gia đình bà tại thửa đất số 141, tờ bản đồ số 99-II, địa chỉ xóm T, xã M, TP ., tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày: Ông Đ và ông Nguyễn Văn S1 là anh em ruột. Năm 1984, ông từ H, Bắc Giang về xóm T, xã M, P, T, còn ông S1 và vợ là bà Nguyễn Thị N năm 1985 mới về đó sinh sống. Hai anh, em chung nhau khai phá một quả đồi để trồng cây và có thỏa thuận phân chia ông S1, bà N lấy ở phía trên đồi, còn ông lấy nửa dưới đồi, phần diện tích gia đình ông quản lý nay thuộc thửa đất số 140, tờ bản đồ 52 (99-II), diện tích 3.370m², ông đã được UBND huyện P, tỉnh Thái Nguyên (nay là UBND thành phố P, tỉnh Thái Nguyên) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 866657 ngày 24/6/2009. Hai anh, em ông đã phân định ranh giới rõ ràng từ năm 1985, có trồng cây dứa gai ở bờ ranh giới, trên đất trồng chè. Năm 2015, bà N san đất làm nhà và đã san bờ ranh giới, năm 2018, ông Đ cũng san đất để làm nhà cho con, khi ông làm nhà xong thì anh Nguyễn Văn T, là con trai bà N có hỏi xin đất làm móng nhà bếp, ông không cho. Năm 2022, anh T làm đơn khởi kiện ông, cho rằng ông lấn chiếm diện tích 816m² vào thửa đất số 141, tờ bản đồ số 99-II của gia đình ông Nguyễn Văn S1. Nay, bà N khởi kiện cho rằng ông Đ lấn chiếm đất và yêu cầu trả lại đất cho bà N, ông không nhất trí. Ông đề nghị giải quyết theo hiện trạng thực tế, vì ông đã sử dụng diện tích đất từ lâu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H, ông Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị H1, bà Bùi Thị Á, bà Trịnh Thị C1: Đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc ông Đ trả lại phần diện tích đất lấn chiếm 620m² đã lấn chiếm của gia đình bà N thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 99-II, tại địa chỉ xóm T, xã M, TP ., tỉnh Thái Nguyên và tự nguyện di dời toàn bộ tài sản đã tạo lập trên phần đất của gia đình bà N.

Người làm chứng: Bà Ngô Thị Đ2, ông Hoàng Văn Đ1, ông Ngô Văn S, ông Lương Đình C2, bà Ngô Thị K1, ông Nguyễn Văn K, ông Dương Văn P, bà Nguyễn Thị T1, bà Đặng Thị L, ông Trần Quang M đều trình bày: Hai gia đình ông S1 và ông Đ có ranh giới rõ ràng từ năm 1984, không xê dịch, vẫn nguyên hiện trạng ban đầu, không có tranh chấp.

Tại biên bản thẩm định tại chỗ ngày 07/6/2024 xác định được phần diện tích đất tranh chấp là 620m² thuộc thửa đất số 141, nằm trong tổng diện tích đất của gia đình bà N, ông S1 đã được cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện trạng sử dụng của gia đình bà N phù hợp với bản đồ địa chính, theo bản đồ địa chính thửa đất 141, tờ bản đồ số 52 (99-II), nay có tổng diện tích là 4.716m².

Tại biên bản định giá tài sản ngày 07/6/2024 xác định: Diện tích đất tranh chấp thửa đất số 141, diện tích 620m², đất trồng cây lâu năm có trị giá 59.000đ/m² x 620m² = 36.580.000 đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N, buộc ông Nguyễn Văn Đ trả lại cho bà N quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tranh chấp 620m² tại thửa đất số 141, tờ bản đồ số 52 (99-II) nằm trong diện tích được cấp 4.316m² đã được UBND huyện P (nay là UBND thành phố P), tỉnh Thái Nguyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 252310, ngày 10/09/1992 mang tên ông Nguyễn Văn S1 cho bà N quản lý, sử dụng.
  2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Đ phải chịu chi phí xem xét, thẩm định, định giá tài sản, đo vẽ là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Nguyên đơn bà N đã nộp 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và đã chi phí hết, nay ông Đ có trách nhiệm thanh toán cho bà N số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên phần án phí, quyền kháng cáo và yêu cầu thi hành án của các đương sự.

Ngày 07/10/2024, bị đơn ông Nguyễn Văn Đ có đơn kháng cáo không nhất trí với toàn bộ bản án sơ thẩm.

Nội dung kháng cáo bị đơn ông Đ cho rằng, diện tích 620,1m² đất có nguồn gốc là do gia đình ông khai phá và sử dụng từ năm 1984 liên tục đến nay đã gần 40 năm. Trên đất, gia đình ông thường xuyên canh tác trồng chè, bạch đàn, keo và cho thu hoạch liên tục từ năm 1985 đến nay. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào bản đồ địa chính, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông S1 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Đ năm 1992 và cấp đổi năm 2009, mà không căn cứ vào nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của gia đình ông là thiếu khách quan, không đúng thực tế. Ông đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân TP. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Tại phiên toà phúc thẩm, các đương sự và người đại diện theo uỷ quyền của đương sự nhất trí thoả thuận: Ông Nguyễn Văn Đ có trách nhiệm trả lại bà Nguyễn Thị N diện tích đất đang quản lý, sử dụng thuộc thửa số 141, tờ bản đồ số 52 (99-II), tại địa chỉ xóm T, xã M, TP ., tỉnh Thái Nguyên là 410.5m² gồm 2 vị trí: Vị trí thứ nhất có diện tích là 356.0m² (trên sơ đồ là các điểm 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, F', C', 2), vị trí thứ hai có diện tích 54.5m² (trên sơ đồ là các điểm 1, 2, A, 26, 1). Ông Nguyễn Văn Đ tiếp tục sử dụng diện tích đất 209.6m² thuộc thửa số 141 nêu trên (trên sơ đồ là các điểm A', B' F', C', Y, Z, A').

Tại cấp phúc thẩm, căn cứ yêu cầu của các bên đương sự, Công ty cổ phần T2 đã chỉnh lý lại sơ đồ bản vẽ hiện trạng và diện tích đất theo sự thỏa thuận của các bên đương sự, chi phí tố tụng là 2.000.000đ (hai triệu đồng).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa, Hội đồng xét xử, các đương sự chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

  1. Bị đơn kháng cáo trong hạn luật định, được miễn nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
  2. Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt và có văn bản ủy quyền cho người đại diện, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt và có bản trình bày ý kiến trong hồ sơ. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử.

Về nội dung vụ án:

  1. Tại phiên toà phúc thẩm các bên đương sự và đại diện theo uỷ quyền của đương sự đã thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án và thoả thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Căn cứ Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thoả thuận của các đương sự như nêu trên.
  2. Về án phí: Ông Đ, sinh năm 1952 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí phúc thẩm.
  3. Về chi phí tố tụng:

Ông Đ phải chịu chi phí tố tụng là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tại cấp sơ thẩm. Nguyên đơn bà N đã nộp 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) và đã chi phí hết, ông Đ có trách nhiệm thanh toán cho bà N số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu chi phí tố tụng là 2.000.000đ (hai triệu đồng) tại cấp phúc thẩm.

  1. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 147, 148, 157, 300 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 37/2024/DS-ST ngày 28/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

Áp dụng: Điều 164, 165, 166, 357, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, 37, 133, 134, 236 Luật Đất đai năm 2024; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự, cụ thể như sau:
    1. Ông Nguyễn Văn Đ có trách nhiệm trả lại bà Nguyễn Thị N diện tích đất đang quản lý, sử dụng thuộc thửa số 141, tờ bản đồ số 52 (99-II), tại địa chỉ xóm T, xã M, TP ., tỉnh Thái Nguyên là 410.5m² gồm 2 vị trí: Vị trí thứ nhất có diện tích là 356.0m² (trên sơ đồ là các điểm 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, F', C', 2), vị trí thứ hai có diện tích 54.5m² (trên sơ đồ là các điểm 1, 2, A, 26, 1).
    2. Ông Nguyễn Văn Đ tiếp tục sử dụng diện tích đất 209.6m² thuộc thửa số 141, tờ bản đồ số 52 (99-II), tại địa chỉ xóm T, xã M, TP ., tỉnh Thái Nguyên theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 252310, ngày 10/09/1992 mang tên ông Nguyễn Văn S1 (trên sơ đồ là các điểm A', B' F', C', Y, Z, A').

    (có bản vẽ hiện trạng của Công ty cổ phần T3 và xây dựng số 6, đo vẽ tháng 3/2025 kèm theo).

    Bà N và ông Đ có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký biến động, điều chỉnh lại hồ sơ địa chính và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

  2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí phúc thẩm.
  3. Về chi phí tố tụng:

    Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu chi phí tố tụng là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) tại cấp sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn Đ có trách nhiệm thanh toán cho bà Nguyễn Thị N số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

    Ông Nguyễn Văn Đ phải chịu chi phí tố tụng là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) tại cấp phúc thẩm và đã thực hiện xong.

Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không tự nguyện thi hành số tiền trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong. Mức lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền chậm trả. Trường hợp không thỏa thuận được về lãi suất chậm trả thì được xác định theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND thành phố Phổ Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS thành phố Phổ Yên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hồng Khánh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/DS-PT ngày 05/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 41/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger