Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27-02-2025.

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Đào Việt Khái.

Ông Trịnh Chí Công.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Bảo Trân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 310/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trần Thùy L, sinh năm 1993 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1992 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 9 năm 2024 cùng các văn bản khác kèm theo, nguyên đơn chị Trần Thùy L trình bày: Vào năm 2019 chị và anh Nguyễn Văn D kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau vào ngày 07 tháng 11 năm 2019. Trong quá trình chung sống giữa chị và anh D đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cải nên cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh D không còn hạnh phúc, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2023 cho đến nay, do đó chị yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Văn D. Về con chung, có một người tên là Nguyễn Thúy D (giới tính nữ), sinh ngày 25 tháng 9 năm 2020, hiện do chị trực tiếp nuôi dưỡng nên khi ly hôn chị yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Đồng thời, cũng không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thùy L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Việc chị Trần Thùy L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn D là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Nguyễn Văn D cư trú tại ấp T, xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Trần Thùy L vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Văn D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị L và anh D là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân, chị L và anh D kết hôn và có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên hôn nhân giữa chị L và anh D là hôn nhân hợp pháp. Chị L yêu cầu ly hôn với anh D vì chị L cho rằng quá trình chung sống giữa chị L và anh D đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cải nên cuộc sống hôn nhân giữa chị L và anh D không còn hạnh phúc, mâu thuẫn giữa chị L và anh D đã trầm trọng và đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2023 cho đến nay mà không hàn gắn, đoàn tụ được. Quá trình giải quyết vụ án, anh D không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của chị L cũng như không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh D đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận cho chị L ly hôn với anh D là có căn cứ đúng theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung, có một người tên là Nguyễn Thúy D (giới tính nữ), sinh ngày 25 tháng 9 năm 2020, chị L yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Anh D không có ý kiến phản đối với yêu cầu về con chung của chị L. Xét thấy, con chung hiện do chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng, do đó nhằm để ổn định về điều kiện môi trường sống và đảm bảo sự phát triển bình thường của con chưa thành niên, từ đó giao cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Chị L không yêu cầu anh D cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

[4] Chị L chưa có yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung. Anh D không có ý kiến về những vấn đề trên nên không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị L phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thùy L ly hôn với anh Nguyễn Văn D.

2. Về con chung, chị Trần Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung tên là Nguyễn Thúy D (giới tính nữ), sinh ngày 25 tháng 9 năm 2020. Anh Nguyễn Văn D không cấp dưỡng nuôi con.

Anh Nguyễn Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị Trần Thùy L phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003941, ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên chị Trần Thùy L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân,
  • tỉnh Cà Mau;
  • - Ủy ban nhân dân xã T, huyện Phú Tân,
  • tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Hồng Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 41/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Trần Thùy L ly hôn với anh Nguyễn Văn D. 2. Về con chung, chị Trần Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung tên là Nguyễn Thúy D (giới tính nữ), sinh ngày 25 tháng 9 năm 2020. Anh Nguyễn Văn D không cấp dưỡng nuôi con. Anh Nguyễn Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. 3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chị Trần Thùy L phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003941, ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên chị Trần Thùy L đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger