Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỐNG ĐA

TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2025/HSST

Ngày 26/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Xây

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thư

2. Bà Vũ Thị Mai

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Hà – Thư ký

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa:

Ông Đào Văn H - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa.

Xét xử công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số 469/2024/TLST-HS ngày 29/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 03/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 02 ngày 13/01/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 11 ngày 13/02/2025 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa đối với:

1. Các bị cáo:

1.1. Bị cáo Lê Đức T, sinh năm 1993; Giới tính: Nam.

Nơi ĐKHKTT: Tổ 9 khu E, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Chỗ ở: Số A ngách A T, phường C, quận B, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Lê Văn T1; Con bà: Lê Thị Kim L; Vợ: Cao Thị T2; Con: Có 01 con, sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 27/7/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận Đ; Có mặt.

1.2. Bị cáo Nguyễn Anh Q, sinh năm 1984; Giới tính: Nam.

Nơi ĐKHKTT: Tổ B Q, phường Q, quận T, Hà Nội; chỗ ở: P1211 toà R102 V, xã Đ, huyện G, TP .; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Xuân N; Con bà: Trịnh Thị Ngọc O; Vợ: Mai Quỳnh A; Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 31/10/2017 TAND TP Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 48 tháng. (đã nộp án phí; đã xóa án tích).

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 28/7/2024 đến ngày 26/11/2023; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

1.3. Bị cáo Nguyễn Phụng D, sinh năm 1987; Giới tính: Nam.

Nơi ĐKHKTT: Số I ngõ Đ, phố B, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; Chỗ ở: Căn A chung cư T, phường V, quận H, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Tham gia đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Xuân P; Con bà: Trần Thị T3; Vợ: Nguyễn Yến N1, SN 2003; Con: Có 01 con; sinh năm 2024.

Nhân thân: Ngày 11/4/2019 TAND thành phố Hồ Chí Minh xử phạt số tiền 50.000.000 đồng về hành vi đánh bạc (đã nộp án phí; đã xóa án tích).

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ và tạm giam từ ngày 28/7/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận Đ; Có mặt.

2. Bị hại:

2.1. Anh Nguyễn Như L1, sinh năm 1992; Địa chỉ: Tổ A B, phường H, quận H, Tp .; Có đơn xin xử vắng mặt.

2.2 Chị Trần Thị Thu T4, sinh năm 1994; Địa chỉ: Số D Đ, phường T, quận T, Tp .; Có đơn xin xử vắng mặt.

3. Người liên quan: Anh Trần Quyết T5, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn H, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 30 phút ngày 13/7/2024, khi anh Nguyễn Như L1 (Sinh năm 1992; Trú tại Tổ A B, phường H, quận H, thành phố Hà Nội) đang ở tại trường Trung học cơ sở L5 có địa chỉ số E đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội thì nhận được cuộc gọi đến của người không quen biết tự giới thiệu là nhân viên ngân hàng tư vấn nâng hạn mức thẻ tín dụng và hướng dẫn anh L1 truy cập vào đường dẫn (link) rồi điền thông tin, cung cấp mã OTP của ngân hàng. Sau khi anh L1 cung cấp mã OTP vào đường dẫn trên thì tài khoản thẻ tín dụng của anh L1 bị chiếm quyền điều khiển và bị trừ số tiền 24.990.000 đồng. Anh L1 kiểm tra lại tài khoản thì phát hiện số tiền trên đã được sử dụng để thanh toán tiền mua 01 (một) máy điện thoại Iphone 15 Pro tại cửa hàng F có địa chỉ tại số F đường N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội nên anh L1 đã đến cơ quan Công an để trình báo nội dung sự việc.

Nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ đã thu thập chứng cứ, tài liệu có liên quan. Ngày 27/7/2024, các đối tượng Lê Đức T (Sinh năm 1993; Trú tại số A ngách A phố T, phường C, quận B, TP.), Nguyễn Phụng D (Sinh năm 1987; Trú tại: Căn A chung cư T, phường V, quận H, TP .) và Nguyễn Anh Q (Sinh năm 1984; Trú tại P1211 toà R102 V, xã Đ, huyện G, TP .) đã đến Cơ quan điều tra đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Anh Q khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng đầu tháng 6/2024, Q được một người quen biết thông qua hội nhóm Vỡ nợ trên Facebook tên L2 “đao” sử dụng một tài khoản Telegram có tên “Kave” liên hệ với Q đề nghị Q làm một số việc liên quan đến hoạt động lừa đảo trên không gian mạng. Cụ thể, “Kave” muốn Q giúp sức đi lấy máy điện thoại từ các cửa hàng điện thoại (sau khi “Kave” chiếm quyền điều khiển tài khoản tín dụng của bị hại và đặt hàng) rồi đem bán lấy tiền và tìm người thành lập công ty ma với mục đích là tạo lập tài khoản ngân hàng (theo quy định mới đối với tài khoản ngân hàng của công ty không cần phải sinh trắc học khi chuyển số tiền trên 10.000.000 đồng) để phục vụ việc thu tiền về sau khi đã bán được điện thoại. Q đồng ý và giới thiệu Nguyễn Phụng D là người đi lấy điện thoại và đem bán cho “Kave”, còn việc thành lập công ty M1 và tìm mua tài khoản không chính chủ thì Q đã liên hệ với Đoàn Văn Q1 (Sinh năm 1993; Trú tại Thôn A, xã T, huyện T, TP .) và trả công với số tiền 10.000.000 đồng để Q1 đứng tên đại diện công ty “THECAOVIP666”, sau đó sử sụng thông tin cá nhân của Q1 để lập tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp. Sau khi Q1 đồng ý, Q thuê D hoàn thiện các giấy tờ thủ tục để thành lập công ty với số tiền 15.000.000 đồng (bao gồm cả tiền phí phải đóng để thành lập công ty). Sau khi bị can Q làm thủ tục thành lập công ty X đã giao lại các số tài khoản đứng tên Q1 cho “Kave” quản lý sử dụng. Để thực hiện được những việc này, “Kave” đã chuyển cho bị can Quân số tiền 45.000.000 đồng. Sau khi trừ đi số tiền đưa cho Q1 và D, Q hưởng lợi số tiền 20.000.000 đồng và sử dụng chi tiêu cá nhân hết.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Phụng D khai nhận hành vi phạm tội như sau: D được Nguyễn Anh Q (là anh em quen biết xã hội từ lâu) đặt vấn đề thuê D tìm địa điểm và làm thủ tục nhanh để thành lập công ty “THECAOVIP666” đứng tên Đoàn Văn Q1. D đồng ý và liên hệ thành lập công ty “THECAOVIP666” cho Q, sau đó D được Q trả số tiền 15.000.000 đồng. Khoảng đầu tháng 7/2024, D được Quân giới T6 công việc đến các cửa hàng FPT Shop trên địa bàn Hà Nội lấy các máy điện thoại sau đó chuyển đi để hưởng tiền công từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng/1 máy điện thoại tùy loại. Quân giới thiệu D liên hệ với một tài khoản Telegram “Kave” để “Kave” trực tiếp điều hành, chỉ đạo D làm việc. Hàng ngày, D tiếp nhận thông tin đơn hàng trực tiếp từ tài khoản Telegram “Kave” gồm CCCD, số điện thoại và mã OTP để làm thủ tục nhận điện thoại từ các cửa hàng FPT shop được chỉ định, nhiệm vụ của D là nhanh chóng đến các cửa hàng đó để lấy điện thoại. Sau khi thu gom được một số máy điện thoại thì “Kave” sẽ đặt xe ôm đến lấy máy từ D mang đi đưa người khác tiêu thụ. Sau đó tiền công thỏa thuận sẽ được “Kave” chuyển vào tài khoản V1 của D. Bị can D nhận thức được nguồn tiền để mua những chiếc máy điện thoại là do hoạt động phạm tội mà có bởi những lý do sau: Kave chỉ liên lạc qua ứng dụng Telegream chưa từng xuất hiện, luôn yêu cầu bị can D khi đi nhận máy điện thoại phải che giấu nhân dạng, phương tiện, số tiền công nhận được sau mỗi lần nhận - chuyển máy điện thoại cao hơn nhận đơn hàng bình thường rồi đi Ship rất nhiều; Khi thắc mắc đặt câu hỏi thì K không trả lời rõ ràng về nguồn gốc số tiền thanh toán mua điện thoại. Tuy nhiên, vì ham lợi nên bị can D vẫn đồng ý tham gia giúp sức cho “Kave”.

Khoảng 9 giờ ngày 25/7/2024, “Kave” yêu cầu D đến cửa hàng F (có địa chỉ tại số F phố L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội) đọc thông tin đơn mua hàng trực tuyến và nhận về 01 máy điện thoại Iphone 15 Pro max màu titan tự nhiên. Chiều cùng ngày D đã giao lại điện thoại này cho xe ôm (do “Kave” đặt) để chuyển cho Lê Đức T đi tiêu thụ. Cơ quan điều tra đã xác định được bị hại là chị Trần Thị Thu T4 (Sinh năm 1994; Trú tại số D Độc Lập B, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh) với số tiền bị chiếm đoạt là 36.690.000 đồng. Chị T4 bị các đối tượng lừa đảo đề nghị huỷ thẻ tín dụng để chị T4 cung cấp thông tin cá nhân và mã OTP, sau đó các đối tượng chiếm quyền điều khiển tài khoản và đặt mua hàng. Chị thảo đề nghị được nhận lại số tiền bị chiếm đoạt hoặc đồ vật tài sản (là chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15 Promax, 512Gb) tương ứng với số tiền bị chiếm đoạt.

Ngoài lần phạm tội trên, D khai kể từ khi bắt đầu làm cho “Kave” (không nhớ thời gian cụ thể) thì D đã nhận và chuyển lại cho “Kave” khoảng 18 - 20 chiếc điện thoại, khi được khoảng 2.000.000 tiền công thì “Kave” sẽ thanh toán cho D. “Kave” là người chủ động đặt ứng dụng giao hàng đến chỗ D lấy điện thoại đi đâu D không biết. Sau mỗi lần giao dịch D đã xoá toàn bộ tin nhắn với “Kave” trên điện thoại của mình. Ngoài lời khai nhận của D ra thì không có tài liệu, chứng cứ nào khác. Do không có thông tin của các bị hại và không làm rõ được đối tượng “Kave” nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xem xét xử lý đối với hành vi này của D.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Lê Đức T khai nhận hành vi phạm tội như sau: Tài khoản Telegram “Kave” chủ động kết bạn với T bàn bạc về hoạt động hack (dùng thủ thuật công nghệ cao nhằm chiếm đoạt) tài khoản thẻ tín dụng ngân hàng của người khác rồi sử dụng để thanh toán trực tuyến mua máy điện thoại mới tại các cửa hàng F shop do bị can chỉ định. Nhiệm vụ của bị can T là sử dụng các mối quan hệ móc nối với các quản lý, nhân viên của cửa hàng FPT shop đơn giản hóa các thủ tục khi giao nhận máy điện thoại đối với những đơn mua hàng trực tuyến được “Kave” thực hiện; Tìm người đi lấy các máy điện thoại sau khi “Kave” chuyển thông tin; Nhận lại các điện thoại trên để đi bán. Do vậy, bị can T đặt vấn đề với Trần Quyết T5 (sinh năm 1995; Trú tại xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định) đến những cửa hàng FPT shop do T chỉ định để lấy các máy điện thoại Iphone mới nhất được mua trực tuyến đem về cho T và được trả công 200.000 đồng/1 máy. Ngay sau khi nhận được máy điện thoại do đối tượng chân rết chuyển lại, bị can T nhanh chóng bán cho người có nhu cầu rồi chuyển khoản số tiền từ 86,5%-88% giá trị tùy loại máy đến tài khoản được “Kave” chỉ định (là tài khoản công ty THECAOVIP666 do Đoàn Văn Q1 đứng tên đại diện pháp nhân). T được hưởng lợi số tiền còn lại sau khi trừ số tiền thỏa thuận phải chuyển cho “Kave” và tiền bồi dưỡng cho quản lý, nhân viên cửa hàng FPT shop từ 600.000 - 1.300.000 đồng/ máy tùy loại.

Ngày 13/7/2024, “Kave” đã sử dụng thông tin của anh Ngô Tuấn T7 (sinh năm 1981; Trú tại Tổ A phường C, quận L, Hà Nội) và số điện thoại 0588.515.xxx để thực hiện đăng ký mua 01 chiếc máy điện thoại Iphone 15 Pro tại cửa hàng F số F đường N, phường T, quận T, thành phố Hà Nội và thanh toán số tiền 24,990.000 đồng bằng thẻ tín dụng vừa chiếm đoạt của anh Nguyễn Như L1. Ngay sau đó, “Kave” đã gửi thông tin trên cho bị can Lê Đức T và yêu cầu T sắp xếp người đi lấy máy. T liền gửi thông tin do “Kave” cung cấp đến cho đối tượng Trần Quyết T5 và yêu cầu T5 đến cửa hàng F số F đường N để liên hệ lấy máy điện thoại Iphone 15 Pro. Đối tượng T5 đã ngay lập tức có mặt tại cửa hàng F trên, vào gặp nhân viên bán hàng, cung cấp thông tin người mua hàng, số điện thoại đặt hàng kèm mã OTP do hệ thống báo về điện thoại. Khi T5 cung cấp đầy đủ thông tin như trên, nhân viên cửa hàng FPT đã giao 01 chiếc máy điện thoại Iphone 15 Pro (nguyên niêm phong là hàng mới) cho T5. Sau khi nhận máy điện thoại trên, T5 đã đem đến giao lại cho bị can Lê Đức T và hưởng số tiền công 200.000 đồng. Bị can T nhận được chiếc điện thoại liền đăng tin bán lại cho người có nhu cầu trên các hội nhóm mạng xã hội với mức giá thấp hơn giá tại cửa hàng F shop 1.350.000 đồng. Sau khi bán được điện thoại và thu về số tiền 23.640.000 đồng, bị can T đã chuyển vào tài khoản THECAOVIP666 do “Kave” chỉ định số tiền 20.803.200 đồng. Còn lại 2.836.800 đồng, bị can T cắt 1.200.000 đồng cho quản lý của cửa hàng F shop vì giúp làm thủ tục xuất máy nhanh. Bị can T được hưởng lợi 1.636.800 đồng và đã chi tiêu cá nhân hết số tiền này.

Ngoài chiếc điện thoại có được do chiếm đoạt tài khoản thẻ tín dụng của anh Nguyễn Như L1 nêu trên, trong ngày 13/7/2024 đối tượng “Kave” đã tiếp tục chỉ đạo bị can Lê Đức T bố trí sắp xếp người đi lấy 3 chiếc điện thoại khác. Cụ thể như sau: Đơn hàng có thông tin người mua là Đỗ Văn L3 (sinh năm 1982; Trú tại Tổ dân phố N, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang) và số điện thoại 0588.566.xxx kèm mã OTP tại cửa hàng F đường N lấy điện thoại Iphone 15 Promax; Đơn hàng có thông tin người mua là Trần Văn L4 (Sinh năm 1990; Trú tại thôn B, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang) số điện thoại 0588.560.xxx tại cửa hàng F 6 phố L, phường T, quận H, TP . nhận 01 chiếc điện thoại Iphone 15 Promax 256GB; Đơn hàng có thông tin người mua là Khoa Văn P1 (sinh năm 2002; Trú tại Bản N, xã C, huyện S, tỉnh Sơn La) số điện thoại 0588.556.xxx tại cửa hàng F 482 đường N, thị trấn V, huyện T, Hà Nội nhận 01 chiếc điện thoại Iphone 15 Promax 256GB. Tất cả các đơn hàng trên, bị can T đều chuyển thông tin mua hàng và thuê đối tượng T5 đi lấy rồi giao lại cho T với tiền thuê là 200.000 đồng/1 máy điện thoại. Qua điều tra xác định, các đơn hàng trên được các đối tượng đặt hàng sau khi chiếm quyền điều khiển tài khoản của các bị hại sau: Nguyễn Dương Bảo N2 (Sinh năm 2003; Trú tại số A phố H, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế) với số tiền bị chiếm đoạt là 29.390.000 đồng; Lý Thị Kiều O1 (Sinh năm 1989; Trú tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương) với số tiền bị chiếm đoạt là 29.590.000 đồng; Bị hại Nguyễn Quốc D1 (Sinh năm 1984; Trú tại ĐX A, Ấp H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương) với số tiền bị chiếm đoạt là 29.590.000 đồng. Tổng số tiền chiếm đoạt được của 3 bị hại để thanh toán mua 3 chiếc máy điện thoại trên là 88.570.000 đồng.

Ngoài ra, ngày 25/7/2024, theo yêu cầu của “Kave”, bị can T là người đã đặt xe ôm công nghệ Xanh SM vận chuyển 1 đơn hàng là chiếc điện thoại Iphone 15 Promax từ chỗ Nguyễn Phụng D đem tới cho T để bán. Tuy nhiên, T chưa kịp bán thì bị Cơ quan công an phát hiện bắt giữ nên bị can T đã tự nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại này để phục vụ công tác điều tra.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Quyết T5 khai nhận: Trong ngày 13/7/2024, T5 đã đi lấy cho T 04 (bốn) đơn hàng là 04 (bốn) chiếc điện thoại và được hưởng số tiền công là 800.000 đồng (Số tiền này T5 đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết). T5 chỉ làm duy nhất ngày 13/07/2024 cho T, sau đó dừng lại không làm nữa. Bản thân T5 không biết nguồn gốc của số tiền thanh toán mua máy điện thoại là của các đối tượng phạm tội mà có.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Q2 khai nhận: Khoảng đầu tháng 04/2024 có quen biết với bị cáo Nguyễn Anh Q và bản thân Q2 đang điều trị ung thư máu. Khoảng cuối tháng 7/2024, bị cáo Q đặt vấn đề nhờ Q2 đứng tên mở công ty “THECAOVIP666” và ra ngân hàng V1 mở tài khoản đứng tên công ty với số tiền công là 10.000.000 đồng. Q2 đang điều trị bệnh cần tiền nên đã đồng ý. Sau khi thành lập công ty và lấy tài khoản ngân hàng xong, thì Q2 đã chuyển lại toàn bộ cho bị can Q quản lý và sử dụng. Q2 không biết mục đích của bị can Q thành lập công ty để làm gì, cũng không liên quan gì đến hoạt động của công ty đó.

Vật chứng vụ án, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ những đồ vật, tài sản gồm:

  • - Thu giữ của bị can Nguyễn Anh Q:
    • 02 (hai) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng, trong đó 01 (một) Điện thoại Nokia 105 màu xanh kèm sim đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại OPPO màu xanh đã qua sử dụng;
    • 02 (hai) con dấu: 01 (một) ghi giám đốc Nguyễn Anh Q,
    • 01 (một) ghi giám đốc Đoàn Văn Q1;
    • 01 (một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Anh Q có số [...];
    • 01 (một) Căn cước công dân mang tên Bùi Văn V có số [...];
    • 01 (một) biển hiệu mang tên công ty TNHH S;
    • 01 (một) Dcom 4g kèm sim; 01 (một) màn hình vi tính ASUS đã qua sử dụng;
    • 01 (một) cây máy tính bên hông dán tem An P2 đã qua sử dụng.
  • - Thu giữ của bị can Nguyễn Phụng D: 01 (một) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng;
  • - Thu giữ của bị can Lê Đức T:
    • 01 (một) chiếc điện thoại Iphone đã qua sử dụng kèm sim;
    • 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 15 Promax màu titan tự nhiên còn nguyên niêm phong;
  • - Thu giữ của đối tượng Trần Quyết T5: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13, màu xanh đã qua sử dụng;

Đối với đối tượng sử dụng tên T8 “Kave” (hay còn gọi là Long đao), các bị can Lê Đức T, Nguyễn Phụng D và Nguyễn Anh Q đều chỉ liên lạc qua ứng dụng Telegram, chưa từng gặp mặt trực tiếp, không rõ nhân thân lai lịch. Tại thời điểm Cơ quan Công an phát hiện, tất cả thông tin trên ứng dụng Telegram về đối tượng “Kave” đã bị xóa bỏ. Do vậy, Cơ quan điều tra không xác minh làm rõ xử lý được.

Đối với Nguyễn Văn Q2 là người được Q thuê đứng tên mở công ty “THECAOVIP666” và tài khoản ngân hàng, do Q2 không biết mục đích của bị can Q thành lập công ty để làm gì, sau khi thành lập công ty và tài khoản ngân hàng giao hết lại cho Q, Q2 không liên quan gì đến hoạt động của công ty do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với Trần Quyết T5, T5 lấy điện thoại di động từ các cửa hàng thông qua T và được T trả công, bản thân T5 không được T cho biết biết nguồn gốc của số tiền thanh toán mua máy điện thoại cũng như phương thức thủ đoạn chiếm đoạt tài sản của các bị can. Do vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với Trần Quyết T5 là có căn cứ.

Đối với anh Hoàng Đình T9 (sinh năm 1993; Trú tại thôn N, xã P, huyện C, Hà Nội) là quản lý FPT shop 640 đường N và anh Đặng Hồng M (sinh năm 1991; Trú tại G tổ C Khu L, phường T, quận H, Hà Nội) là quản lý FPT shop 482 đường N. Tại Cơ quan điều tra, anh Hoàng Đình T9 và Đặng Hồng M khai: Bị can Lê Đức T là anh em quen biết từ lâu nên khi biết cửa hàng của T9 và M thiếu doanh số, bị can T đặt vấn đề chuyển một số đơn hàng mua máy điện thoại trực tuyến tại cửa hàng F đường N và đề nghị anh T9, M hỗ trợ hoàn thiện thủ tục xuất máy cho khách đến lấy. Sau đó, bị can T sẽ bồi dưỡng thêm cho anh T9, M số tiền từ 600.000 đồng đến 1.300.000 đồng tùy loại máy. Anh T10, M không biết nguồn gốc số tiền đặt điện thoại từ đâu, chỉ biết T nói mua lại được các máy đó giá rẻ bán giá cao nên cho T10, M thêm ít tiền. Cụ thể: Ngày 13/7/2024, anh T10 đã hỗ trợ thủ tục xuất 2 chiếc máy điện thoại theo đề nghị của bị can T và được T bồi dưỡng số tiền 2.500.000 đồng. Số tiền này anh T10 đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Còn anh M từ chối nhận số tiền bồi dưỡng trên vì đồng ý hỗ trợ do thiếu doanh số bán hàng. Do T10 và M đều không biết nguồn gốc số tiền mà T dùng để đặt hàng tại các cửa hàng FPT Shop do mình làm quản lý nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Đối với những người liên quan bị các đối tượng sử dụng thông tin cá nhân để đặt mua hàng trên hệ thống FPTshop là các anh Ngô Xuân T11, Trần Văn L4, Đỗ Văn L3 và Khoa Văn P1 đều khẳng định không biết, không sử dụng hình ảnh thẻ căn cước của mình để đặt hàng và không liên quan hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị cáo. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là có căn cứ.

Trách nhiệm dân sự:

Đối với các bị hại Nguyễn Dương Bảo N2, Lý Thị Kiều O1 và Nguyễn Quốc D1 đều từ chối làm việc với Cơ quan điều tra và không yêu cầu đề nghị gì về số tiền bị chiếm đoạt.

Bị hại là anh Nguyễn Như L1 đề nghị được hoàn trả lại số tiền bị chiếm đoạt là 24.990.000 đồng (anh L1 đã nhận đủ tiền do bị cáo T khắc phục và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo).

Bị hại Trần Thị Thu T4 để nghị được hoàn trả lại số tiền bị chiếm đoạt là 36.690.000 đồng hoặc được nhận lại đồ vật tài sản (là chiếc điện thoại Iphone 15 Promax 512Gb) tương ứng với số tiền bị chiếm đoạt.

Gia đình bị cáo T đã tự nguyện nộp số tiền 10.965.200 đồng thu lợi bất chính, theo Biên lai thu tiền số 001944 ngày 26/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và thừa nhận bản Cáo trạng truy tố là đúng.

Bản Cáo trạng số 468/CT-VKS ngày 29/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa truy tố:

Bị cáo Lê Đức T về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b,đ khoản 2, Điều 290 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo Nguyễn Anh Q và Nguyễn Phụng D về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 290 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm b,đ khoản 2, khoản 5 Điều 290; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt Lê Đức T 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Phạt bổ sung bằng tiền 20.000.000 đồng đối với bị cáo T để sung quỹ Nhà nước.
  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 290; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt Nguyễn Anh Q từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Q.
  • - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 290; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
  • Xử phạt Nguyễn Phụng D từ 8 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Miễn hình phạt bổ sung với bị cáo D.

* Về trách nhiệm dân sự:

  • - Bị hại: Nguyễn Dương Bảo N2, Lý Thị Kiều O1 và Nguyễn Quốc D1 từ chối làm việc với cơ quan điều tra và không đề nghị xem xét số tiền bị chiếm đoạt. Nên không xem xét.
  • - Anh Nguyễn Như L1 đã được bị cáo T bồi thường đủ và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • - Chị T4 đề nghị xin nhận lại điện thoại hoặc tiền tương đương với trị giá chiếc điện theo kết luận định giá. Xét thấy, chiếc điện thoại Iphone 15 promax (màu titan còn nguyên hộp) của chị T4 đang được quản lý tại cơ quan THA nên trả lại chị T4.

Truy thu số tiền thu lợi bất chính của các bị cáo để sung quỹ Nhà nước, cụ thể:

  • Bị cáo T là 10.965.200 đồng (gia đình bị cáo đã tự nộp tại THA ngày 26/2/2025), của bị cáo Q là 20.000.000 đồng, của bị cáo D 9.000.000 đồng,

*Vật chứng:

  • - Trả lại bị cáo Nguyễn Anh Q các tài sản do không liên quan đến hành vi phạm tội, gồm:
    • 01 (một) Điện thoại Nokia 105 màu xanh, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại OPPO màu xanh, đã qua sử dụng;
    • 02 (hai) con dấu: 01 (một) ghi giám đốc Nguyễn Anh Q,
    • 01 (một) ghi giám đốc Đoàn Văn Q1;
    • 01 (một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Anh Q;
    • 01 (một) Căn cước công dân mang tên Bùi Văn V;
    • 01 (một) biển hiệu mang tên công ty TNHH S; 01 (một) Dcom 4g;
    • 01 (một) màn hình vi tính ASUS đã qua sử dụng; 01 (một) cây máy tính, đã qua sử dụng.
  • - Tịch thu của bị cáo Q 02 điện thoại
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Phụng D do có liên quan đến hành vi phạm tội.
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại Iphone đã qua sử dụng kèm sim của bị cáo Lê Đức T do có liên quan đến hành vi phạm tội.
  • - Trả anh Trần Quyết T5 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13, màu xanh đã qua sử dụng, do không liên quan đến vụ án;

Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Đ, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, đơn trình báo, lời khai bị hại, vật chứng thu được, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận:

Khoảng đầu tháng 6/2024, Nguyễn Anh Q được một người quen biết thông qua hội nhóm Vỡ nợ trên Facebook tên L2 “đao” sử dụng một tài khoản Telegram có tên “K1” liên hệ đề nghị Q giúp sức thành lập công ty với mục đích là tạo lập tài khoản ngân hàng để “Kave” thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác qua không gian mạng để thanh toán đặt hàng mua điện thoại tại các cửa hàng và muốn Q giúp sức đến các cửa hàng đó lấy điện thoại đem tiêu thụ sau đó chuyển lại tiền cho “Kave” thông qua số tài khoản trên. Nguyễn Anh Q đồng ý và tìm được Nguyễn Văn Q2 để đứng tên đại diện thành lập công ty “THECAOVIP666” và tạo tài khoản ngân hàng, còn thủ tục thì Q thuê Nguyễn Phụng D thực hiện. Sau khi thành lập được công ty, Q được “Kave” trả công số tiền 45.000.000 đồng. Số tiền này Q trả công cho Q2 số tiền 10.000.000 đồng, trả cho D số tiền 15.000.000 đồng, còn Q hưởng lời số tiền 20.000.000 đồng. Việc giúp sức cho “Kave” đến các cửa hàng điện thoại để lấy hàng, Q không trực tiếp làm mà giới thiệu Nguyễn Phụng D làm việc cho “Kave”. D đồng ý và được “Kave” thoả thuận trả tiền công từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng/1 máy điện thoại tùy loại.

Khoảng 9 giờ ngày 25/7/2024, “Kave” yêu cầu D đến cửa hàng F (có địa chỉ tại số F phố L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội) đọc thông tin đơn mua hàng trực tuyến và nhận về 01 máy điện thoại Iphone 15 Pro max màu titan tự nhiên, đơn hàng này do “Kave” đặt sau khi chiếm đoạt được số tiền 36.690.000 đồng trong tài khoản của chị Trần Thị Thu T4. Chiều cùng ngày, D đã giao lại điện thoại này cho xe ôm (do “Kave” đặt) để chuyển cho Lê Đức T đi tiêu thụ. Nhưng T chưa kịp tiêu thụ thì hành vi phạm tội của các bị can bị phát hiện nên đã chủ động giao nộp lại tài sản trên.

Ngoài ra, cũng với thủ đoạn như trên “Kave” liên hệ với Lê Đức T để giúp sức cho “Kave” trong việc sử dụng các mối quan hệ móc nối với các quản lý, nhân viên của cửa hàng FPT shop nhằm đơn giản hóa các thủ tục khi giao nhận máy điện thoại khi “Kave” đặt hàng và tìm người đi lấy các máy điện thoại này sau đó tiêu thụ rồi chuyển khoản số tiền từ 86,5%-88% giá trị tùy loại máy đến tài khoản được “Kave” chỉ định (là tài khoản công ty THECAOVIP666 do Đoàn Văn Q1 đứng tên đại diện pháp nhân). T thuê Trần Quyết T5 đến các cửa hàng lấy điện thoại và trả công cho T5 số tiền 200.000 đồng/1 máy. Ngày 13/7/2024 và ngày 25/7/2024, “Kave” đã chiếm đoạt được tài sản của các bị hại Nguyễn Như L1, Nguyễn Dương Bảo N2, Lý Thị Kiều O1; Nguyễn Quốc D1 và Trần Thị Thu T4 với tổng số tiền là 150.250.000 đồng, số tiền này “Kave” đã sử dụng số tài khoản của các bị hại để thanh toán mua điện thoại từ các cửa hàng FPT S. “Kave” sau khi đặt hàng đã gửi thông tin khách hàng và địa điểm đặt hàng cho T. T đã trả công cho T5, để thắng đến các địa điểm trên nhận điện thoại đưa lại cho T tiêu thụ sau đó chuyển lại tiền vào tài khoản công ty “THECAOVIP666” cho “Kave”. Tổng số tiền T hưởng lời trong ngày 13/7/2024 là 10.965.200 đồng. T5 chỉ làm cho T để nhận tiền công không liên hệ trực tiếp với “Kave” và không biết nguồn gốc của số tiền thanh toán mua máy điện thoại là của các đối tượng phạm tội mà có.

[2.1] Hành vi của các bị cáo cấu thành tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Cáo trạng truy tố bị cáo Lê Đức T theo quy định tại điểm b,đ khoản 2, Điều 290 Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Anh Q và Nguyễn Phụng D theo điểm a, khoản 1, Điều 290 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm trật tự trị an xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử cần phải xử phạt nghiêm đối với các bị cáo mới có tác dụng giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét:

Trong vụ án này có tính đồng phạm, đối tượng có tên “Kave” có vai trò chủ mưu, tổ chức hoạt động. Bị cáo T, Q và D có vai trò giúp sức; Bị cáo T tham gia tích cực hơn các bị cáo khác, nên mức hình phạt nghiêm khắc hơn so với bị cáo Q và D.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, tỏ ra ăn năn, hối cải. Các bị cáo đầu thú; Gia đình bị cáo T đã bồi thường đủ cho anh L1.

Bị cáo T nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn là lao động chính trong gia đình (có xác nhận của chính quyền địa phương);

Bị cáo Q có tiền án, bị cáo D có tiền sự, song đã được xóa theo qui định pháp luật.

Tài sản các bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi đủ và trả lại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo T, D đã bị tạm giam 7 tháng, bị cáo Q bị tạm giam 4 tháng. Thời gian bị tạm giữ, tạm giam, các bị cáo đã nhận thức sâu sắc về hành vi phạm tội của mình, đủ để các bị cáo thay đổi nhận thức, sớm trở thành người có ích.

Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng và xét thấy không cần thiết phải cách ly thêm các bị cáo ra khỏi xã hội, mà cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội và giao cho chính quyền địa phương nơi cư trú quản lý, giáo dục cũng đảm bảo răn đe và phòng ngừa chung. Đồng thời thể hiện sự khoan hồng của nhà nước, sự nhân văn của pháp luật.

Bị cáo D đã bị tạm giam 7 tháng, HĐXX quyết định hình phạt của bị cáo bằng thời gian tạm giam. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị giam giữ về tội phạm khác;

HĐXX quyết định hình phạt đối với bị cáo T là hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo có thời gian thử thách. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị giam giữ về tội phạm khác;

[3] Ngoài việc áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù, HĐXX thấy cần phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T theo khoản 5 Điều 290 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Đức T 20.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Q và D.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Các bị hại Nguyễn Dương Bảo N2, Lý Thị Kiều O1, Nguyễn Quốc D1 không không có yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.

Anh Nguyễn Như L1 đã được bị cáo bồi thường đủ, không có yêu cầu gì khác. Nên HĐXX không xét.

Chị Trần Thị Thu T4 có yêu cầu nhận lại chiếc điện thoại hoặc số tiền tương đương chiếc điện thoại theo kết luận định giá. Xét nguyện vọng của chị T4 là chính đáng nên trả lại cho chị T4 chiếc điện thoại Iphone 15 Promax màu titan tự nhiên còn nguyên hộp đã tạm giữ của bị cáo T trong quá trình điều tra.

[5] Về vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ các đồ vật, tài sản của các bị cáo và các đối tượng có liên quan, nay HĐXX sẽ:

  • - Trả lại bị cáo Nguyễn Anh Q các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội, như: 01 (một) Điện thoại Nokia 105 màu xanh kèm sim đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại OPPO màu xanh đã qua sử dụng; 02 (hai) con dấu: 01 (một) ghi giám đốc Nguyễn Anh Q, 01 (một) ghi giám đốc Đoàn Văn Q1; 01 (một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Anh Q; 01 (một) Căn cước công dân mang tên Bùi Văn V; 01 (một) biển hiệu mang tên công ty TNHH S; 01 (một) Dcom 4g; 01 (một) màn hình vi tính ASUS đã qua sử dụng; 01 (một) cây máy tính.
  • - Tịch thu của bị cáo Q 01 điện thoại Iphone X, màu vàng và 01 điện thoại LG màu xanh để sung quỹ Nhà nước, do có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
  • - Tịch thu của bị cáo D 01 (một) chiếc điện thoại di động X màu vàng, để sung quỹ Nhà nước, do có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo Lê Đức T 01 (một) chiếc điện thoại Iphone X màu trắng, do liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo;
  • - Trả cho chị Tạ Thị T12 01 chiếc điện thoại Iphone 15 promax, màu titan còn nguyên hộp là tài sản hợp pháp của chị T12, đã tạm giữ của bị cáo T trong quá trình điều tra.
  • - Trả anh Trần Quyết T5 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13, màu xanh đã qua sử dụng, do không liên quan đến vụ án;

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Lê Đức T, Nguyễn Anh Q và Nguyễn Phụng D phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

1.1. Áp dụng điểm b,đ khoản 2, khoản 5 Điều 290; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Đức T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 ( Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Phạt bổ sung bằng tiền 20.000.000 đồng đối với bị cáo Lê Đức T để sung quỹ Nhà nước.

Trả tự do cho bị cáo Lê Đức T tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị giam giữ về tội phạm khác.

Giao bị cáo Lê Đức T cho Ủy ban nhân dân phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

1.2. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 290; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh Q 15 (Mười lăm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, hạn thử thác 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Anh Q cho Ủy ban nhân dân phường Q, quận T, Tp . giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

1.3. Áp dụng điểm a khoản 1, Điều 290; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Nguyễn Phụng D 7 (B) tháng tù. Trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị giam giữ về tội phạm khác.

2. Về trách nhiệm dân sự, vật chứng, án phí và quyền kháng cáo:

  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước của bị cáo Nguyễn Phụng D: 01 (Một) chiếc điện thoại di động Iphone X, màu đỏ, không kiểm tra chất lượng bên trong (đã qua sử dụng).
  • - Tịch thu của bị cáo Nguyễn Anh Q:
    • 01 (Một) điện thoại Iphone màu vàng, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong (đã qua sử dụng).
    • 01 (Một) điện thoại di động LG, màu xanh, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong (đã qua sử dụng).
  • - Tịch thu của bị cáo Lê Đức T: 01 (một) chiếc điện thoại Iphone không kiểm tra chất lượng bên trong (đã qua sử dụng) để sung quỹ Nhà nước;
  • - Trả cho chị Trần Thị Thu T4: 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 15 Promax màu titan tự nhiên còn nguyên niêm phong;
  • - Trả lại bị cáo Nguyễn Anh Q:
    • 02 (hai) con dấu: 01 (một) ghi giám đốc Nguyễn Anh Q, 01 (một) ghi giám đốc Đoàn Văn Q1;
    • 01 (một) Căn cước công dân mang tên Nguyễn Anh Q;
    • 01 (một) Căn cước công dân mang tên Bùi Văn V;
    • 01 (một) biển hiệu mang tên công ty TNHH S;
    • 01 (một) USB 4G có chữ OLAX, không có lắp, không kiểm tra chất lượng bên trong;
    • 01 (một) điện thoại di động NOKIA màu xanh, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong.
    • 01 (một) điện thoại OPPO màu xanh, không kiểm tra chất lượng và nội dung bên trong.
    • 01 (một) màn hình vi tính ASUS không kiểm tra chất lượng bên trong, (đã qua sử dụng);
    • 01 (một) cây máy tính không kiểm tra chất lượng bên trong, (đã qua sử dụng).
  • - Trả anh Trần Quyết T5 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 13, màu xanh đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 107 ngày 12/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa, TP .).

Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 10.965.200 đồng của bị cáo Lê Đức T (xác nhận, gia đình bị cáo đã nộp đủ theo Biên lai thu tiền số 0019644 ngày 26/2/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đống Đa),

Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là của bị cáo Nguyễn Anh Q là 20.000.000 đồng;

Truy thu sung quỹ Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là của bị cáo bị cáo Nguyễn Phụng D 9.000.000 đồng,

Áp dụng Điều 106, 135, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Người liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết về những vấn đề trực tiếp liên quan./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Chi cục THADS quận Đống Đa;
  • - Bị cáo; Bị hại; Người liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Công Xây

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2025/HSST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA về sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 41/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: điểm b,đ khoản 2, khoản 5 Điều 290; điểm b,s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger