|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2025/HS-ST Ngày 21/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Trần Duyên Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Sỹ.
- Ông Trần Ngọc Hòa.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Trí là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Hạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 293/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Văn P; sinh ngày 10/10/1982 tại tỉnh Bình Định; nơi ĐKTT: Tổ B, khu phố D, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Tổ D, khu phố I, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị Hồng T (chết); có vợ và 03 con (lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2016); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:
- Ngày 01/12/1998 bị Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 22/01/1999;
- Ngày 11/01/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt ngày 31/3/2011;
Bị tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay; có mặt.
-
Đặng Duy L; sinh ngày 10/8/1998 tại tỉnh Bình Định; nơi ĐKTT: Tổ G, khu phố A, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Ngọc V và bà Võ Thị N; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:
- Ngày 24/3/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 24/3/2016;
- Ngày 21/11/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 06/5/2021;
Bị tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay; có mặt.
-
Nguyễn Hoàng T1; sinh ngày 26/4/1988 tại tỉnh Bình Định; nơi ĐKTT và nơi cư trú: Tổ C, khu phố F, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T2 và bà Trần Thị T3; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:
- Ngày 04/11/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 15/11/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; tổng hợp hình phạt phải thi hành của hai bản án là 18 tháng tù, chấp hành xong hình phạt ngày 28/8/2017;
- Ngày 27/11/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 01 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt là 02 năm tù, chấp hành xong hình phạt ngày 06/6/2021;
Bị tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay; có mặt.
-
Trần Văn Đ; sinh ngày 28/10/1999 tại tỉnh Bình Định; nơi ĐKTT: Tổ E, khu phố A, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T4 và bà Trịnh Thị M; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay; có mặt.
-
Võ Văn V1; sinh ngày 31/8/1999 tại tỉnh Bình Định; nơi ĐKTT và nơi cư trú: Tổ A, khu phố D, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn N1 và bà Hồ Thị T5; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:
- Ngày 10/5/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 10/5/2017;
- Ngày 16/5/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 09/4/2019;
Bị tạm giam từ ngày 19/12/2023 đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Trương Đại K; sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ B, khu phố E, phường G, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
Bùi Quốc P1; sinh năm 1992; nơi cư trú: Số nhà B, đường D, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
Hoàng Trọng H1; sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ H, khu phố B, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
Trương Thị Hoàng M1; sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ G, khu phố A, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
Nguyễn Duy Q; sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ A, khu phố B, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 17/12/2023, Nguyễn Văn P gọi điện thoại cho một người thanh niên tên H2 (không rõ nhân thân, lai lịch, không nhớ số điện thoại) hỏi mua 1.500.000 đồng ma tuý Heroine, hẹn giao ma tuý ở phía đầu chân cầu T (bên phường Đ). Sau đó, P đến điểm hẹn đưa cho H2 1.500.000 đồng, H2 đưa cho P 01 gói ma tuý Heroine. Số ma tuý này P đem về nhà lấy ra một ít để sử dụng, số còn lại cất giấu để sử dụng tiếp. Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 19/12/2023, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Q phối hợp Công an phường Đ tiến hành kiểm tra hành chính nhà của P tại tổ D, khu phố I, phường Đ, thành phố Q phát hiện P cất giấu 01 gói ni-lông chứa ma tuý Heroine tại vị trí trên kệ ti-vi trong nhà. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản quả tang, thu giữ toàn bộ số ma tuý nói trên. Ngày 22/12/2023, Phòng K1 Công an tỉnh B có Kết luận giám định số 556/KL-KTHS kết luận: Chất bột vón cục bên trong 01 gói ni-lông ghi thu của P có khối lượng 1,3678 gam là ma túy loại Heroine. Heroine nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số TT là 9, Danh mục I, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Văn P đã 03 lần bán ma tuý cho Hoàng Trọng H1, 03 lần bán ma tuý cho Trương Đại K, 05 lần bán ma tuý cho Bùi Quốc P1, 03 lần bán ma tuý cho Nguyễn Hoàng T1. Cụ thể:
- 03 lần bán ma tuý cho Hoàng Trọng H1:
+ Lần 01: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 13/11/2023, H1 gọi điện cho P hỏi mua 2.500.000 đồng ma tuý đá, hẹn giao ma túy tại gần chân cầu H, phường Đ, thành phố Q. H1 chuyển khoản tiền mua ma túy đến số tài khoản 0906676690 của P mở tại Ngân hàng Q1, sau đó đến điểm hẹn nhận 01 gói ma tuý từ P. P thu lợi số tiền là 200.000 đồng.
+ Lần 02: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 13/11/2023, H1 gọi điện cho P hỏi mua 4.000.000 đồng ma tuý đá, hẹn giao ma túy tại gần chân cầu H, phường Đ, thành phố Q. H1 chuyển khoản tiền mua ma túy đến số tài khoản 0906676690 của P mở tại Ngân hàng Q1, sau đó đến điểm hẹn nhận 01 gói ma tuý từ P. P thu lợi số tiền là 300.000 đồng.
+ Lần 03: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 13/11/2023, H1 gọi điện cho P hỏi mua 4.200.000 đồng ma tuý đá, hẹn giao ma túy tại gần chân cầu H, phường Đ, thành phố Q. H1 chuyển khoản tiền mua ma túy đến số tài khoản 0906676690 của P mở tại Ngân hàng Q1, sau đó đến điểm hẹn nhận 01 gói ma tuý từ P. P thu lợi số tiền là 200.000 đồng.
- 03 lần bán ma tuý cho Trương Đại K:
+ Lần 01: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 28/11/2023, K gọi điện cho P hỏi mua 4.000.000 đồng ma tuý đá, hẹn giao ma túy tại trước nhà P ở tổ D, khu phố I, phường Đ, thành phố Q. K chuyển khoản tiền mua ma túy đến số tài khoản 0906676690 của P mở tại Ngân hàng Q1, sau đó đến nhà P để lấy ma tuý. P thu lợi số tiền là 300.000 đồng.
+ Lần 02: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 30/11/2023, K gọi điện cho P hỏi mua 2.000.000 đồng ma tuý đá, hẹn giao ma túy tại trước nhà P. K chuyển khoản tiền mua ma túy đến số tài khoản 0906676690 của P mở tại Ngân hàng Q1, sau đó đến nhà P để lấy ma tuý. P thu lợi số tiền là 200.000 đồng.
+ Lần 03: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 04/12/2023, K gọi điện cho P hỏi mua 2.000.000 đồng ma tuý đá, hẹn giao ma túy tại trước nhà P. K chuyển khoản tiền mua ma túy đến số tài khoản 0906676690 của P mở tại Ngân hàng Q1, sau đó đến nhà P để lấy ma tuý. P thu lợi số tiền là 200.000 đồng.
- 05 lần bán ma tuý cho Bùi Quốc P1:
+ Lần 01: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 11/12/2023, P1 gọi điện cho P hỏi mua 1.100.000 đồng ma tuý đá, hẹn giao ma túy tại trước nhà P. P1 chuyển khoản tiền mua ma túy đến số tài khoản 0906676690 của P mở tại Ngân hàng Q1, sau đó đến nhà P để lấy ma tuý. P thu lợi số tiền là 100.000 đồng.
+ Lần 02: Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 11/12/2023, P1 gọi điện cho P hỏi mua 700.000 đồng ma tuý đá, hẹn giao ma túy tại trước nhà P. P1 chuyển khoản tiền mua ma túy đến số tài khoản 0906676690 của P mở tại Ngân hàng Q1, sau đó đến nhà P để lấy ma tuý. P thu lợi số tiền là 50.000 đồng.
+ Lần 03: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 14/12/2023, P1 gọi điện cho P hỏi mua 3.700.000 đồng ma tuý đá, hẹn giao ma túy tại trước nhà P. P1 chuyển khoản tiền mua ma túy đến số tài khoản 0906676690 của P mở tại Ngân hàng Q1, sau đó đến nhà P để lấy ma tuý. P thu lợi số tiền là 200.000 đồng.
+ Lần 04: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, P1 gọi điện cho P hỏi mua 900.000 đồng ma tuý đá, hẹn giao ma túy tại trước nhà P. P1 chuyển khoản tiền mua ma túy đến số tài khoản 0906676690 của P mở tại Ngân hàng Q1, sau đó đến nhà P để lấy ma tuý. P thu lợi số tiền là 50.000 đồng.
+ Lần 05: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, P1 gọi điện cho P hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý đá, hẹn giao ma túy tại trước nhà P. P1 chuyển khoản tiền mua ma túy đến số tài khoản 0906676690 của P mở tại ngân hàng Q1, sau đó đến nhà P để lấy ma tuý. P thu lợi số tiền là 50.000 đồng.
- 03 lần bán ma tuý cho Nguyễn Hoàng T1:
+ Lần 01: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 13/12/2023, Nguyễn Hoàng T1 đến nhà của P hỏi mua 2.000.000 đồng ma tuý đá. P liên hệ với H2 hỏi mua 01 gói ma tuý đá với giá 1.800.000 đồng sau đó bán cho T1. T1 đưa cho P 2.000.000 đồng tiền mặt. P thu lợi số tiền là 200.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
+ Lần 02: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 18/12/2023, Nguyễn Hoàng T1 đến nhà của P hỏi mua 2.000.000 đồng ma tuý đá. Thạch chuyển tiền qua số tài khoản 0906676690 của P mở tại Ngân hàng Q1. P liên hệ với H2 hỏi mua 01 gói ma tuý đá với giá 1.800.000 đồng sau đó bán cho T1, thu lợi số tiền là 200.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
+ Lần 03: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 19/12/2023, T1 liên lạc với P hỏi mua 01 gói ma tuý đá giá 4.000.000 đồng, hẹn giao ma túy tại trước nhà P. Thạch chuyển tiền qua số tài khoản 0906676690 của P mở tại Ngân hàng Q1. P liên hệ với H2 hỏi mua 01 gói ma tuý đá với giá 3.500.000 đồng sau đó bán cho T1, thu lợi số tiền là 500.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Vào lúc 18 giờ 00 ngày 19/12/2023, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Q phối hợp Công an phường Đ tuần tra kiểm soát, đến khu vực công viên gần Nhà hàng Đ1 (thuộc tổ D, khu phố I, phường Đ, thành phố Q) phát hiện Nguyễn Hoàng T1 đang điều khiển xe mô-tô biển số 78K1-3188 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, T1 tự nguyện giao nộp 01 gói thuốc lá bên trong đựng 01 gói ni-lông và 02 đoạn ống hút nhựa hàn kín 2 đầu đều chứa các hạt tinh thể nghi là ma tuý. T1 khai nhận các hạt tinh thể là ma tuý đá của T1 cất giấu để bán lại cho người khác nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện. Tổ Công tác đã tiến hành lập biên bản quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Ngày 22/12/2023, Phòng K1 Công an tỉnh B có Kết luận giám định số 556/KL-KTHS kết luận:
- Các hạt tinh thể bên trong 01 gói ni-lông ghi thu của T1 có khối lượng 2,4952 gam là ma túy loại Methamphetamine;
- Các hạt tinh thể bên trong 02 đoạn ống hút nhựa ghi thu của T1 có khối lượng 0,3868 gam là ma túy loại Methamphetamine.
Methamphetamine nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất có số TT là 247, Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Hoàng T1 03 lần mua ma tuý từ Nguyễn Văn P và 03 lần bán lại ma tuý cho Đặng Duy L, cụ thể:
+ Lần 01: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 13/12/2023, L gọi điện cho T1 hỏi mua 2.500.000 đồng ma tuý đá, T1 hẹn L đến gần chân cầu L, phường Đ để giao ma tuý. T1 đến nhà Nguyễn Văn P để mua 2.000.000 đồng ma tuý đá. Sau đó, L đến điểm hẹn đưa cho T1 số tiền 2.500.000 đồng, T1 giao cho L 01 gói thuốc JET bên trong có chứa ma tuý đá. T1 thu lợi số tiền là 500.000 đồng.
+ Lần 02: Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 19/12/2023, L gọi điện cho T1 hỏi mua 2.500.000 đồng ma tuý đá, hẹn giao ma túy tại công viên trước Nhà hàng Đ1, thuộc khu phố I, phường Đ, thành phố Q. L chuyển tiền mua ma tuý qua số tài khoản 0564494444 của T1 mở tại Ngân hàng Q1. Sau đó, T1 lấy gói ma tuý đã mua của P trước đó mang đến điểm hẹn giao cho L. T1 thu lợi số tiền là 500.000 đồng.
+ Lần 03: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 19/12/2023, L gọi điện thoại cho T1 hỏi mua 3.000.000 đồng ma tuý đá, hẹn giao ma túy tại công viên trước nhà hàng Đ1, thuộc khu phố I, phường Đ, thành phố Q. L chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho T1 trước. Sau đó, T1 liên hệ với P hỏi mua 4.000.000 đồng ma tuý đá, chia vào 01 gói ni-lông và 02 ống hút nhựa. Thạch đến điểm hẹn chờ L để giao ma tuý đá nhưng chưa kịp giao thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Vào lúc 16 giờ 50 phút ngày 19/12/2023, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Q phối hợp Công an phường Q tuần tra kiểm soát, đến đoạn đường L thuộc khu phố E, phường Q, thành phố Q phát hiện Trần Văn Đ đang điều khiển xe mô-tô Honda AirBlade biển số 77L2-35616 chở Đặng Duy L có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác phát hiện Đ làm rơi 01 gói ni-lông chứa các hạt tinh thể nghi là ma tuý từ trên tay xuống đất; L đang dùng chân ép sát kẹp 01 khẩu trang vào bên hông xe mô-tô 77L2-35616 bên trong có 01 gói ni-lông chứa các hạt tinh thể nghi là ma tuý. L, Đ khai nhận các hạt tinh thể bên trong 02 gói ni-lông trên là ma tuý đá của cả hai cất giữ nhằm mục đích bán lại cho người khác nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của L, Đ tại phòng 202 Khách sạn M2, số nhà B, đường N, phường N, thành phố Q phát hiện Võ Văn V1 đang có mặt trong phòng, đồng thời phát hiện, thu giữ 01 bình thuỷ tinh gắn ống hút và gắn ống thuỷ tinh là dụng cụ sử dụng ma tuý đá, 01 cân điện tử và bì ni-lông.
Ngày 22/12/2023, Phòng K1 Công an tỉnh B có Kết luận giám định số 556/KL-KTHS kết luận:
- Các hạt tinh thể bên trong 01 gói ni-lông (ghi thu trên tay Đ) có khối lượng 0,1046 gam là ma túy loại Methamphetamine;
- Các hạt tinh thể bên trong 01 gói ni-lông (ghi thu trong khẩu trang của L) có khối lượng 0,5512 gam là ma túy loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra xác định: Đặng Duy L bán ma tuý cho Trần Văn Đ 03 lần, cụ thể:
+ Lần 01: Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 13/12/2023, Đ gọi điện thoại cho L qua ứng dụng Z hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá. L nói Đ đến phòng 301 Khách sạn M2, số nhà A, đường N, phường N, thành phố Q để lấy ma tuý. Khi Đ đến phòng, L đưa Đ 01 gói ma tuý đá, Đ đưa cho L 300.000 đồng tiền mặt. L thu lợi số tiền là 100.000 đồng.
+ Lần 02: Khoảng 15 giờ 45 phút ngày 13/12/2023, Đ gọi điện cho L hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá. L nói Đ đến phòng 301 Khách sạn M2 (địa chỉ nêu trên) để lấy ma tuý. Khi Đ đến phòng thì L đưa Đ 01 gói ma tuý đá, Đ đưa cho L 300.000 đồng tiền mặt. L thu lợi số tiền là 100.000 đồng.
+ Lần 03: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 18/12/2023, Đ gọi điện cho L hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá. L nói Đ đến phòng 202 Khách sạn M2, số nhà D, đường N, phường N, thành phố Q để lấy ma tuý. Sau đó, Đ đến phòng Khách sạn gặp L để lấy 01 gói ma tuý, Đ đưa cho L 300.000 đồng. L thu lợi số tiền là 100.000 đồng, tiêu xài cá nhân hết.
Ngoài ra, Đặng Duy L cùng với Võ Văn V1 đã bán ma tuý cho Nguyễn Duy Q 02 lần, cụ thể:
+ Lần 01: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 15/12/2023, Q liên lạc với V1 hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá, V1 nhắn tin cho L biết, L nói V1 đến phòng 301 Khách sạn M2, số nhà A, đường N rồi đưa V1 01 gói ma tuý đá để đi bán cho Q. V1 giao ma tuý cho Q tại gần chân cầu C, phường Đ. Q đưa V1 100.000 đồng tiền mặt còn 200.000 đồng Q chuyển khoản vào số tài khoản 1019737974 của L mở tại Ngân hàng V3. L thu lợi số tiền là 100.000 đồng, trả công cho V1 50.000 đồng.
+ Lần 02: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 16/12/2023, Q liên lạc với V1 hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá, V1 nhắn tin cho L biết, L nói V1 đến phòng 301 Khách sạn M2 rồi đưa V1 01 gói ma tuý đá để đi bán cho Q. V1 giao ma tuý cho Q tại gần chân cầu C, phường Đ. Q đưa 300.000 đồng cho V1, sau đó V1 đưa tiền lại cho L. L thu lợi số tiền là 100.000 đồng, trả công cho V1 50.000 đồng.
Mở rộng điều tra xác định: Trần Văn Đ đã bán ma tuý cho Trương Thị Hoàng M1 03 lần, cụ thể:
+ Lần 01: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 13/12/2023, M1 liên lạc qua Z với Đ hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá, hẹn giao ma túy tại trước phòng trọ của M1 tại số D đường N, TP Q. M1 chuyển tiền qua ứng dụng Momo số điện thoại “0775.524.xxx” cho Đ trước. Sau đó Đ đến trước nhà trọ giao ma tuý cho M1.
+ Lần 02: khoảng 16 giờ 00 phút ngày 13/12/2023, M1 liên lạc qua Z với Đ hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá, hẹn giao ma túy tại trước phòng trọ của M1. M1 chuyển tiền qua ứng dụng Momo số điện thoại “0775.524.xxx” cho Đ trước. Sau đó Đ đến trước nhà trọ giao ma tuý cho M1.
+ Lần 03: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 19/12/2023, M1 liên lạc qua Z với Đ hỏi mua 200.000 đồng ma tuý đá, hẹn giao ma túy tại trước phòng trọ của M1. M1 chuyển tiền qua số tài khoản 1415136789 của Đ mở tại Ngân hàng T9. Đ thu lợi số tiền là 50.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q tạm giữ 3,5378 gam ma túy loại Methamphetamine, 1,3678 gam ma túy loại Heroine; 01 xe mô-tô Honda AirBlade, biển số 77L2-35616, màu cam đen, số khung: RLHJF6305F7485578, số máy: JF63E1122130 (đã qua sử dụng); 01 xe mô-tô bên ngoài có dòng chữ Sirius, màu sơn đen xám, gắn biển số 78K1-3188, số khung: RLCS5C630BY556962, số máy đã bị đục phá, qua giám định không phục hồi được (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động màu xanh dương, mặt sau có dòng chữ Realme, kiểu máy: RMX2189, số seri: ZTPJW8PJBALNVWS8, bên trong không có sim, ghi thu của Nguyễn Văn P (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động Iphone Xs Max, màu vàng, số máy: MT5X2LL/A, số seri: C39XLHUYKPHF, bên trong gắn sim số 0931942386, ghi thu của Đặng Duy L (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động Iphone 12 ProMax, màu xanh đen, số máy: MG9T3LL/A, số seri: F2LFJDZC0D42, gắn sim số 0372844076, ghi thu của Võ Văn V1 (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động màu trắng bạc, mặt sau có dòng chữ Realme, kiểu máy: RMX3085, số seri: U84P699X4DEQ45ZD, gắn sim số: 0786537577, ghi thu của Nguyễn Hoàng T1 (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau có dòng chữ Realme, kiểu máy: RMX3690, số seri: 3318312030020831, bên trong gắn sim số 0775524566, ghi thu của Trần Văn Đ (đã qua sử dụng); 01 chai nhựa gắn ống hút nhựa (đã qua sử dụng); 02 ống thuỷ tinh uốn cong có đầu tròn (đã qua sử dụng); 18 gói ni-lông trống (chưa qua sử dụng); 01 chiếc cân điện tử màu đen (đã qua sử dụng); 01 bình thủy tinh gắn ống hút nhựa và ống thuỷ tinh uốn cong có một đầu hình tròn (đã qua sử dụng).
Ngày 26/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô-tô biển số 77L2-35616 cho chủ sở hữu là ông Trần Văn T4.
Bản cáo trạng số 287/CT-VKSQN ngày 25/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Đặng Duy L, Trần Văn Đ, Nguyễn Hoàng T1, Võ Văn V1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn P, Đặng Duy L, Trần Văn Đ, Nguyễn Hoàng T1, Võ Văn V1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo như nội dung của Cáo trạng và các chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập. Các bị cáo đã ăn năn hối cải và xin Tòa xử phạt nhẹ.
Trong phần luận tội, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Về trách nhiệm hình sự:
- - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Văn P từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Văn P từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự; tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc Nguyễn Văn P chấp hành hình phạt chung.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Đặng Duy L từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Hoàng T1 từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Văn Đ từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Võ Văn V1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh B, có chữ ký của Nguyễn Nhật H3, Nguyễn Thành T6, Lê Tuấn T7 (tất cả đều 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: H4 lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 0,0575 gam mẫu A1; 0,4637 gam mẫu A2; 2,2906 gam mẫu A3; 0,2557 gam mẫu A4 và 1,1371 gam mẫu A5 còn lại sau giám định;
- 01 chai nhựa gắn ống hút nhựa (đã qua sử dụng);
- 02 ống thuỷ tinh uốn cong có đầu tròn (đã qua sử dụng);
- 18 gói ni-lông trống (chưa qua sử dụng);
- 01 chiếc cân điện tử màu đen (đã qua sử dụng);
- 01 bình thủy tinh gắn ống hút nhựa và ống thuỷ tinh uốn cong có một đầu hình tròn (đã qua sử dụng);
- 05 thẻ sim điện thoại số: 0775.524.xxx, 0372844076, 0363343474, 0786537577, 0931942386.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- 01 xe mô tô bên ngoài có dòng chữ Sirius, màu sơn đen xám, gắn biển số 78K1-3188, số khung: RLCS5C630BY556962 (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động màu xanh dương, mặt sau có dòng chữ Realme, kiểu máy: RMX2189, số seri: ZTPJW8PJBALNVWS8, ghi thu của Nguyễn Văn P (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động Iphone Xs Max, màu vàng, số máy: MT5X2LL/A, số seri: C39XLHUYKPHF, ghi thu của Đặng Duy L (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động Iphone 12 ProMax, màu xanh đen, số máy: MG9T3LL/A, số seri: F2LFJDZC0D42, ghi thu của Võ Văn V1 (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động màu trắng bạc, mặt sau có dòng chữ Realme, kiểu máy: RMX3085, số seri: U84P699X4DEQ45ZD, ghi thu của Nguyễn Hoàng T1 (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau có dòng chữ Realme, kiểu máy: RMX3690, số seri: 3318312030020831, ghi thu của Trần Văn Đ (đã qua sử dụng).
3. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; truy thu nộp vào ngân sách nhà nước các khoản tiền thu lợi bất chính của các bị cáo: Nguyễn Văn P 2.750.000 đồng; Đặng Duy L 400.000 đồng; Nguyễn Hoàng T1 1.000.000 đồng; Trần Văn Đ 50.000 đồng; Võ Văn V1 100.000 đồng.
Các bị cáo Nguyễn Văn P, Đặng Duy L, Trần Văn Đ, Nguyễn Hoàng T1, Võ Văn V1 thống nhất như luận tội của Kiểm sát viên, không có lời nào bào chữa hay tham gia tranh luận. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi của các bị cáo là sai trái và xin Toà khoan hồng xử phạt mức án nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên bảo đảm tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại.
[2] Các bị cáo Nguyễn Văn P, Đặng Duy L, Nguyễn Hoàng T1, Trần Văn Đ, Võ Văn V1 thực hiện hành vi bị truy tố khi đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, trong tình trạng không bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận:
Thông qua một đối tượng tên H2, bị cáo Nguyễn Văn P nhiều lần mua ma túy để sử dụng và bán lại cho nhiều người trên địa bàn thành phố Q. Ngày 19/12/2023, Tổ công tác Công an thành phố Q kiểm tra hành chính tại nhà và phát hiện P tàng trữ trái phép 1,3678 gam chất ma tuý loại Heroine nhằm mục đích sử dụng. Qua điều tra xác định: Trong tháng 11 và tháng 12/2023, P có 14 lần bán trái phép chất ma túy loại Methaphetamine cho các đối tượng Trương Đại K (03 lần), Hoàng Trọng H1 (03 lần), Bùi Quốc P1 (05 lần), Nguyễn Hoàng T1 (03 lần), thu lợi bất chính tổng số tiền là 2.750.000 đồng. Trong tháng 12/2023, bị cáo Nguyễn Hoàng T1 có 03 lần bán trái phép chất ma tuý loại Methaphetamine cho Đặng Duy L, thu lợi bất chính tổng số tiền là 1.000.000 đồng; bị cáo Đặng Duy L có 05 lần bán trái phép chất ma tuý loại Methaphetamine cho Trần Văn Đ (03 lần) và Nguyễn Duy Q (02 lần), thu lợi bất chính tổng số tiền là 400.000 đồng; bị cáo Trần Văn Đ có 03 lần bán trái phép chất ma tuý loại Methaphetamine cho Trương Thị Hoàng M1, thu lợi bất chính số tiền là 50.000 đồng; bị cáo Võ Văn V1 có 02 lần giúp sức cho Đặng Duy L bán trái phép chất ma tuý loại Methaphetamine cho Nguyễn Duy Q (bằng việc liên lạc, nhắn tin, nhận ma túy đi giao), thu lợi bất chính tổng số tiền là 100.000 đồng.
Các hành vi nêu trên của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất ổn định trật tự, an toàn xã hội, có tính nguy hiểm cao, có đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn P cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Đặng Duy L, Nguyễn Hoàng T1, Trần Văn Đ, Võ Văn V1 cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên về tội danh đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Các bị cáo Nguyễn Văn P, Đặng Duy L, Nguyễn Hoàng T1, Trần Văn Đ thực hiện hành vi phạm tội riêng lẻ. Bị cáo Võ Văn V1 giúp sức cho Đặng Duy L thực hiện tội phạm thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Với tính chất, mức độ nghiêm trọng của các hành vi phạm tội nêu trên của các bị cáo, xét thấy cần xử phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Bị cáo Nguyễn Văn P có nhân thân xấu, phạm 02 tội, số lần bán ma túy trái phép là 14 lần, nhiều hơn đáng kể so với các bị cáo khác, nên mức hình phạt cần nghiêm khắc và nặng hơn các bị cáo khác. Bị cáo Đặng Duy L có nhân thân xấu, số lần bán ma túy trái phép là 05 lần, nhiều hơn so với các bị cáo còn lại, nên mức hình phạt phải nặng hơn các bị cáo còn lại. Bị cáo Nguyễn Hoàng T1 có nhân thân xấu, số lần bán ma túy trái phép là 03 lần bằng với số lần bán ma túy trái phép của bị cáo Trần Văn Đ, nhưng vì Đ có nhân thân tốt hơn nên mức hình phạt của bị cáo T1 phải nặng hơn bị cáo Đ. Bị cáo Võ Văn V1 tuy có nhân thân xấu nhưng với số lần bán ma túy trái phép là 02 lần, trong vai trò là người giúp sức cho bị cáo L, nên mức hình phạt nhẹ hơn các bị cáo khác.
[4] Tính đến lần phạm tội này, các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn, hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, gia đình của bị cáo P và bị cáo L đã tự nguyện nộp thay số tiền thu lợi bất chính nhằm khắc phục hậu quả cho 02 bị cáo này, nên có thể xem xét giảm nhẹ thêm hình phạt cho 02 bị cáo theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều không có nghề nghiệp và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Đối với các khoản tiền thu lợi bất chính thông qua việc phạm tội mà có, theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự, cần truy thu nộp vào ngân sách nhà nước đối với các bị cáo: Nguyễn Văn P 2.750.000 đồng; Đặng Duy L 400.000 đồng; Nguyễn Hoàng T1 1.000.000 đồng; Trần Văn Đ 50.000 đồng; Võ Văn V1 100.000 đồng. Tạm giữ các khoản tiền mà gia đình bị cáo P và bị cáo L đã nộp khắc phục hậu quả cho 02 bị cáo tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định để bảo đảm thi hành án.
[6] Các vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/12/2024 là những công cụ, phương tiện phạm tội, liên quan đến việc phạm tội cần xử lý theo Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự như sau:
- Tịch thu tiêu hủy đối với các vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm có:
- 01 bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh B, có chữ ký của Nguyễn Nhật H3, Nguyễn Thành T6, Lê Tuấn T7 (tất cả đều 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: H4 lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 0,0575 gam mẫu A1; 0,4637 gam mẫu A2; 2,2906 gam mẫu A3; 0,2557 gam mẫu A4 và 1,1371 gam mẫu A5 còn lại sau giám định;
- 01 chai nhựa gắn ống hút nhựa (đã qua sử dụng);
- 02 ống thuỷ tinh uốn cong có đầu tròn (đã qua sử dụng);
- 18 gói ni-lông trống (chưa qua sử dụng);
- 01 chiếc cân điện tử màu đen (đã qua sử dụng);
- 01 bình thủy tinh gắn ống hút nhựa và ống thuỷ tinh uốn cong có một đầu hình tròn (đã qua sử dụng);
- 05 thẻ sim điện thoại số: 0775.524.xxx, 0372844076, 0363343474, 0786537577, 0931942386.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với các vật chứng còn giá trị sử dụng gồm có:
- 01 xe mô tô bên ngoài có dòng chữ Sirius, màu sơn đen xám, gắn biển số 78K1-3188, số khung: RLCS5C630BY556962 (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động màu xanh dương, mặt sau có dòng chữ Realme, kiểu máy: RMX2189, số seri: ZTPJW8PJBALNVWS8, ghi thu của Nguyễn Văn P (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động Iphone Xs Max, màu vàng, số máy: MT5X2LL/A, số seri: C39XLHUYKPHF, ghi thu của Đặng Duy L (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động Iphone 12 ProMax, màu xanh đen, số máy: MG9T3LL/A, số seri: F2LFJDZC0D42, ghi thu của Võ Văn V1 (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động màu trắng bạc, mặt sau có dòng chữ Realme, kiểu máy: RMX3085, số seri: U84P699X4DEQ45ZD, ghi thu của Nguyễn Hoàng T1 (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau có dòng chữ Realme, kiểu máy: RMX3690, số seri: 3318312030020831, ghi thu của Trần Văn Đ (đã qua sử dụng).
[7] Lời đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt đối với các bị cáo là hơi quá nghiêm khắc, về xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định nêu trên.
[8] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Về các nội dung khác: Trần Văn T4 cho Trần Văn Đ mượn xe mô-tô 77L2-356.16 nhưng không biết Đ sử dụng xe mô-tô này để thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nên không phạm tội. Nguyễn Triệu V2 là chủ khách sạn M2 nhưng không biết việc L sử dụng trái phép chất ma túy trong phòng 202, không giúp sức cho L cất giấu, mua bán trái phép chất ma túy nên không phạm tội. Đối tượng tên “H2” mà Nguyễn Văn P đã liên hệ để mua ma tuý, quá trình điều tra không xác minh được nhân thân lai lịch của người này nên chưa có căn cứ để xử lý. Nguyễn Duy Q, Trương Thị Hoàng M1 mua trái phép chất ma tuý để sử dụng, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an thành phố Q để xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý” là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
Bị cáo Nguyễn Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Các bị cáo Đặng Duy L, Nguyễn Hoàng T1, Trần Văn Đ, Võ Văn V1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1.1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Văn P 01 (một) năm tù.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Văn P 08 (tám) năm tù.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự; tổng hợp hình phạt của 02 tội buộc Nguyễn Văn P phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 19/12/2023.
1.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Đặng Duy L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 19/12/2023.
1.3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Hoàng T1 07 (bảy) năm 04 (bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 19/12/2023.
1.4. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Trần Văn Đ 07 (bảy) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 19/12/2023.
1.5. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Võ Văn V1 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 19/12/2023.
2. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; truy thu nộp vào ngân sách nhà nước các khoản tiền thu lợi bất chính của các bị cáo: Nguyễn Văn P 2.750.000 đồng; Đặng Duy L 400.000 đồng; Nguyễn Hoàng T1 1.000.000 đồng; Trần Văn Đ 50.000 đồng; Võ Văn V1 100.000 đồng.
Tạm giữ số tiền 2.750.000 đồng mà chị Trương Thị Thu H5 (vợ của bị cáo Nguyễn Văn P) đã nộp khắc phục hậu quả cho bị cáo P theo Biên lai thu tiền số 0000269 ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định để bảo đảm thi hành án.
Tạm giữ số tiền 400.000 đồng mà anh Đặng Duy T8 (anh ruột của bị cáo Đặng Duy L) đã nộp khắc phục hậu quả cho bị cáo L theo Biên lai thu tiền số 0000270 ngày 19 tháng 02 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định để bảo đảm thi hành án.
3. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bì thư dán kín niêm phong 03 dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh B, có chữ ký của Nguyễn Nhật H3, Nguyễn Thành T6, Lê Tuấn T7 (tất cả đều 01 chữ ký), bên ngoài bì thư ghi: H4 lại đối tượng giám định: Vỏ, bao bì đựng mẫu vật; 0,0575 gam mẫu A1; 0,4637 gam mẫu A2; 2,2906 gam mẫu A3; 0,2557 gam mẫu A4 và 1,1371 gam mẫu A5 còn lại sau giám định;
- 01 chai nhựa gắn ống hút nhựa (đã qua sử dụng);
- 02 ống thuỷ tinh uốn cong có đầu tròn (đã qua sử dụng);
- 18 gói ni-lông trống (chưa qua sử dụng);
- 01 chiếc cân điện tử màu đen (đã qua sử dụng);
- 01 bình thủy tinh gắn ống hút nhựa và ống thuỷ tinh uốn cong có một đầu hình tròn (đã qua sử dụng);
- 05 thẻ sim điện thoại số: 0775.524.xxx, 0372844076, 0363343474, 0786537577, 0931942386.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:
- 01 xe mô tô bên ngoài có dòng chữ Sirius, màu sơn đen xám, gắn biển số 78K1-3188, số khung: RLCS5C630BY556962 (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động màu xanh dương, mặt sau có dòng chữ Realme, kiểu máy: RMX2189, số seri: ZTPJW8PJBALNVWS8, ghi thu của Nguyễn Văn P (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động Iphone Xs Max, màu vàng, số máy: MT5X2LL/A, số seri: C39XLHUYKPHF, ghi thu của Đặng Duy L (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động Iphone 12 ProMax, màu xanh đen, số máy: MG9T3LL/A, số seri: F2LFJDZC0D42, ghi thu của Võ Văn V1 (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động màu trắng bạc, mặt sau có dòng chữ Realme, kiểu máy: RMX3085, số seri: U84P699X4DEQ45ZD, ghi thu của Nguyễn Hoàng T1 (đã qua sử dụng);
- 01 điện thoại di động màu đen, mặt sau có dòng chữ Realme, kiểu máy: RMX3690, số seri: 3318312030020831, ghi thu của Trần Văn Đ (đã qua sử dụng).
(Theo theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19 tháng 12 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định).
4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc Nguyễn Văn P, Đặng Duy L, Nguyễn Hoàng T1, Trần Văn Đ, Võ Văn V1 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
5. Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Trần Duyên Anh |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Trần Duyên Anh |
Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tội phạm về ma túy (tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 41/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội phạm về ma túy (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo P phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán tría phép chất ma túy
