|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày: 16/12/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đức Hùng
Ông Ngô Mạnh Hải
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Sỹ Quản - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm theo hình thức xét xử trực tuyến thụ lý số 39/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 tại 02 điểm cầu là Hội trường xét xử tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh và phòng xét xử trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh B đối với bị cáo:
Nguyễn Trọng L, sinh năm 1989 (Tên gọi khác: Không)
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã P, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1965; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ và con;
Tiền sự: Không.
Tiền án: Tại Bản án số 96/2023/HSST ngày 14/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tuyên phạt 15 tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo chấp hành xong toàn bộ hình phạt ngày 05/5/2024.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. (Có mặt tại điểm cầu thành phần)
- Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Nguyễn Đình T – Cán bộ phụ trách tin học thuộc Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
- Cán bộ phụ trách tin học thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh B
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 12/8/2024, L bắt xe buýt từ nhà đi đến thành phố T, tỉnh Bắc Ninh mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, L đến khu phố T, thành phố T, xuống xe đi bộ thì gặp 01 người đàn ông không quen biết đang ngồi trên 01 chiếc xe mô tô kiểu kiểu dáng xe HONDA WAVE, màu trắng, không rõ BKS giống người nghiện ma túy. Lượng hỏi và mua được của người này 02 gói nhỏ ma túy Heroine đều được bọc ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ với giá 200.000 đồng. Sau đó, L cho 02 gói ma túy này vào 01 túi ni lông màu xanh mà L nhặt được ở trên đường và cất giấu tại túi quần phía trước bên trái của L đang mặc rồi đi bộ tìm nơi sử dụng ma túy. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày, khi L đang đi bộ tại khu phố T thì gặp lực lượng Công an đi đến kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ: 01 túi nilon màu xanh bên trong có chứa 02 gói nhỏ đều được bọc ngoài bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng..
Tại bản Kết luận giám định số 1870 ngày 14/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 02 gói nhỏ được bọc ngoài bằng lớp giấy màu trắng có dòng kẻ (đựng trong 01 túi nilong màu xanh) có khối lượng 0,2611 gam; Loại ma túy: Heroin”
Tại Bản Cáo trạng số 242/CT-VKS-TS ngày 18/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Trọng L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như bản cáo trạng đã nêu và nhất trí với bản kết luận giám định số ma túy đã thu giữ. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo là đúng, không oan cho bị cáo.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L từ 20 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/8/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định.
Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn.
Khi nói lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
3
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 14 giờ 30 ngày 12/8/2024 tại khu phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Trọng L có hành vi tàng trữ trái phép 0,2611 gam ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân. Do vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Trọng L đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng tới sức khỏe con người đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm nguy hiểm khác. Do vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Năm 2023 bị cáo đã bị xét xử 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điêm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Sau khi phạm tội, bị cáo đã khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Ngoài hình phạt chính lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung công quỹ Nhà nước nhưng xét thấy bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản riêng, không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Đối với số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng K Công an tỉnh B là vật Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo L tại khu vực khu phố T, phường Đ, thành phố T. Bị cáo khai không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T chưa làm rõ được, tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trọng L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt: Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; diểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng L 20 ( Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 12/8/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Trọng L 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định;
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Trọng L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trọng Lượng - TTMT