|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/KDTM-ST
Ngày: 12 - 12 -2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng,
hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trần Văn Phương
Các Hội thẩm nhân dân: bà Huỳnh Thị Thúy Hoa và bà Nguyễn Thị Thu Cúc
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thu Thảo - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Long Xuyên tham gia phiên tòa:
bà Nguyễn Thị Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 30/2023/TLST-KDTM ngày 19 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 101/2024/QĐXXST-KDTM ngày 19 tháng 02 năm 2024, thông báo phiên tòa số: 1349/2024/QĐST-KDTM, ngày 20 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4. Địa chỉ: số A đường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L– Chức vụ: Tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn Bé T – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 – Chi nhánh A1.
Theo quyết định số 3828/QĐ-BIDV ngày 01/07/2024 của Tổng giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4, ủy quyền tham gia tốt tụng, phá sản và thi hành án dân sự.
Người đại diện theo ủy quyền lại tham gia tố tụng:
Ông Lý Thanh P – Chức vụ: Trưởng phòng Quản lý rủi ro thuộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 – Chi nhánh A1.
Bà Lê Thị Mỹ N – Chức vụ: Trưởng phòng Khách hàng cá nhân – thuộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 – Chi nhánh A1.
Ông Lý Đại T1 – Chức vụ: Chuyên viên Khách hàng cá nhân tổng hợp cấp 1 – Phòng khách hàng cá nhân – thuộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 – Chi nhánh A1.
Theo quyết định số 2117/GUQ-BIDV.AG, ngày 18/10/2024 về việc ủy quyền tham gia tố tụng, phá sản và thi hành án dân sự - của Giám đốc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 – Chi nhánh A1.
Địa chỉ: số A đường L, khóm E, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
2.Bị đơn:
Ông Trần Văn N1 – Chủ hộ kinh doanh Nhân Hậu. Địa chỉ: ấp S, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang.
Bà Nguyễn Thị Bé T2, sinh năm 1982. Địa chỉ: ấp S, thị trấn C, huyện T, tỉnh An Giang.
Cùng địa chỉ liên lạc: ấp T, xã T, thị xã T, huyện T, tỉnh An Giang.
3.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1952;
- Bà Trần Thị Đ (Đ3), sinh năm 1954;
- Ông Nguyễn Hữu S, sinh năm 1992;
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1992;
- Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1979;
- Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1977;
- Anh Nguyễn Văn Đ2, sinh năm 2004 (con ông Đ2 và bà L1)
- Công ty Cổ phần D.
Cùng địa chỉ: ấp A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng
Cùng địa chỉ: ấp A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng
Cùng địa chỉ: ấp A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng
Người đại diện theo pháp luật: Martin W – Chức vụ: Giám đốc Công ty Cổ phần D.
Người đại diện theo ủy quyền cho Công ty:
Ông Dương Quang A – Chức vụ: Phó quản lý miền N
Ông Bùi Thanh N2 – Chức vụ: Quản lý vùng
Địa chỉ trụ sở chính: Tầng A, tòa nhà HDTC, số C đường B, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh
(ông Lý Thanh P có mặt, Công ty Cổ phần D có yêu cầu vắng mặt, các đương sự còn lại vắng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng ông Lý Thanh P trình bày:
Ngày 28/03/2022 Ngân hàng T3 (viết tắt là Ngân hàng) ký kết hợp đồng tín dụng số 01/2022/17121723/HĐTD với ông Trần Văn N1. Theo hợp đồng, Ngân hàng cho vay 4.000.000.000đ; mục đích: Mua bán vật liệu xây dựng; thời hạn: 11 tháng, từ ngày 28/03/2022 đến ngày 28/02/2023, lãi suất trong hạn 8,3%/năm, lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất trong hạn, ngân hàng giải ngân theo bảng kê rút vốn ngày 31/03/2022, về phương thức thanh toán: trả tiền vốn vào ngày đáo hạn và trả tiền lãi ngày 05 tây.
Để bảo đảm cho hợp đồng tín dụng, ông N1 thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH08054 và số CH08055, cùng ngày 03/03/2022 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng cấp mang tên ông Trần Văn N1, đất tọa lạc tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng.
Đến ngày 04/03/2023 ông N1 không trả tiền vốn, lãi nên Ngân hàng chuyển sang nợ quá hạn và khởi kiện yêu cầu ông Trần Văn N1 - Chủ hộ kinh doanh Nhân Hậu và vợ là bà Nguyễn Thị Bé T2 phải nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 – Do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 - Chi nhánh A1 đại diện nhận số tiền vốn: 4.000.000.000đ, tổng số tiền lãi trong hạn, quá hạn tạm tính đến ngày 19/07/2023 là 213.753.424đ; Yêu cầu tiếp tục duy trì lãi suất phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 01/2022/17121723/HĐTD ngày 28/03/2022, kèm theo Bảng kê rút vốn số 01/2022/17121723/HĐTD ngày 31/03/2022 trên số dư nợ chưa thanh toán cho đến khi hết khoản vay và yêu cầu tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp bất động sản số: 01/2022/17121723/HĐBĐ ngày 28/03/2022 để bảo đảm thi hành án.
Trong quá trình giải quyết Ngân hàng yêu cầu Tòa án tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp, phát sinh các đương sự là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ngân hàng yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp do đăng ký giao dịch bảo đảm, riêng các vật kiến trúc, công trình phụ của các đương sự có liên quan, ngân hàng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về chi phí tố tụng 550.000đ, ngân hàng yêu cầu xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
Trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Văn N1 vắng mặt không có lý do, không ý kiến trình bày, không đưa ra yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị Bé T2 trình bày theo biên bản lấy lời khai ngày 29/07/2024 như sau: Bà không vay tiền của Ngân hàng, không đồng ý liên đới trách nhiệm trả nợ, riêng tài sản ông N1 thế chấp là tài sản riêng, bà T2 không liên quan.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Hữu Q trình bày theo văn bản trình bày ý kiến ngày 06/02/2024 như sau: Bà Nguyễn Thị Bé T2 và ông Trần Văn N1 có mối quan hệ thân thiết với gia đình ông Q, xem như người thân trong gia đình. Vào năm 2019, ông N1 và bà T2 gặp khó khăn về tiền vốn, có xin ông Q cho mượn đất đem thế chấp để vay vốn. Vì mối quan hệ thân tình nên ông Q đã cho ông N1 và bà T2 mượn đất để sang tên, sau khi sang tên để thế chấp Ngân hàng. Tại thời điểm mượn đất, ông N1 có làm biên nhận để làm bằng, giấy chứng nhận hiện ông N1 đứng tên, do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng cấp. Nay, ông Q yêu cầu ông N1 và bà T2 trả lại giấy tờ thửa đất do ông Q đứng tên trước kia vì khi sang tên ông Q không nhận tiền sang bán. Do đó, yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết cho ông Q theo quy định pháp luật. Các đương sự còn lại không có ý kiến trình bày, không cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan cho Tòa án.
Công ty Cổ phần D có yêu cầu vắng mặt, không đưa ra yêu cầu độc lập đối với các đương sự có liên quan.
Các ông bà: Trần Thị Đ3 (Đàn), Nguyễn Hữu S, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Văn Đ1, anh Nguyễn Văn Đ2 vắng mặt, không có lý do, không ý kiến trình bày, không đưa ra yêu cầu độc lập đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa Ngân hàng yêu cầu ông Trần Văn N1 – chủ hộ kinh doanh Nhân Hậu trả số tiền 4.963.860.107đ. Trong đó, tiền vốn 4.000.000.000đ, tiền lãi trong hạn 614.882.192đ, tiền lãi quá hạn 297.435.616đ, tiền lãi chậm trả 51.542.299đ. Tự nguyện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện đối với trách nhiệm liên đới của bà Nguyễn Thị Bé T2. Về chi phí tố tụng đã nộp cho Tòa án huyện L, tỉnh Sóc Trăng số tiền 550.000đ, yêu cầu xem xét, giải quyết theo quy định pháp luật.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên:
Về tố tụng: Quá trình tố tụng và tại phiên tòa những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng chấp hành đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về thời hạn xét xử chưa bảo đảm theo quy định pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện về trách nhiệm liên đới của bà Nguyễn Thị Bé T2 do nguyên đơn tự nguyện rút căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận một yêu cầu khởi kiện của ngân hàng đối với ông Trần Văn N1-Chủ hộ kinh doanh Nhân Hậu. Đối với ông Q chỉ gửi văn bản trình bày ý kiến mà không có yêu cầu độc lập, không cung cấp chứng cứ chứng minh nên để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của những người sinh sống trong các căn nhà trên tài sản thế chấp, cần xem xét áp dụng Án lệ số 11/2017/AL, ngày 14/12/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao dành cho ông Q, bà Đ, ông S, bà H, bà L1, ông Đ1, ông Đ2 quyền ưu tiên nhận chuyển nhượng diện tích đất gắn liền với căn nhà nếu có nhu cầu. Trường hợp sau này, ông Q, bà Đ, ông S, bà H, bà L1, ông Đ1, ông Đ2 có tranh chấp với ông N1 thì được quyền khởi kiện trong vụ án khác. Ngoài ra trên đất còn có trạm BTS của Công ty Cổ phần D nhưng công ty không đưa ra yêu cầu độc lập nên không xem xét. Trường hợp công ty có tranh chấp thì được quyền khởi kiện trong vụ án khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tranh chấp giữa Ngân hàng và ông Trần Văn N1, Hội đồng xét xử xác định là tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, tại phiên tòa có mặt ông Lý Thanh P, vắng mặt ông Trần Văn N1, bà Nguyễn Thị Bé T2; ông Nguyễn Hữu Q, bà Trần Thị Đ3 (Đ), ông Nguyễn Hữu S, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn Đ1, anh Nguyễn Văn Đ2. Riêng Công ty Cổ phần D có yêu cầu vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Xét hợp đồng tín dụng số 01/2022/17121723/HĐTD ngày 28/03/2022, kèm theo bảng kê rút vốn ngày 31/03/2022, nhận thấy: Ông Trần Văn N1 là người ký tên vay với tư cách là bên vay tiền của Ngân hàng. Ông N1 đã ký nhận đủ số tiền 4.000.000.000đ vào ngày 31/03/2022 theo bảng kê rút vốn. Việc ký kết hợp đồng, giao nhận tiền giữa các bên trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp quy định tại Điều 116, 117, 119 Bộ luật dân sự năm 2015 và phù hợp Điều 90, 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
[3.2] Theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và quá trình thực hiện hợp đồng, có căn cứ xác định ông N1 đã nhận đủ số tiền 4.000.000.000đ, đến nay chưa trả tiền vốn, lãi trong hạn và tiền lãi quá hạn theo thỏa thuận là vi phạm Điều 4, Điều 6 Hợp đồng tín dụng. Trong toàn bộ quá trình giải quyết, bị đơn ông N1 vắng mặt không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nghĩa là ông đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của ông theo quy định pháp luật. Do đó, có căn cứ để Hội đồng xét xử giải quyết buộc ông N1 trả số tiền vốn 4.000.000.000đ, tiền lãi trong hạn tiền lãi trong hạn 614.882.192đ, tiền lãi quá hạn 297.435.616đ, tiền lãi chậm trả 51.542.299đ là phù hợp quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015.
[3.4] Về trách nhiệm liên đới của bà Nguyễn Thị Bé T2. Tại phiên tòa, Ngân hàng do ông P đại diện theo ủy quyền tự nguyện rút lại một phần yêu cầu khởi kiện. Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn trên tinh thần tự nguyện, không bị ép buộc phù hợp quy định tại Điều 217, 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xem xét đình chỉ một phần yêu cầu của Ngân hàng đối với bà Nguyễn Thị Bé T2.
[4] Xét hợp đồng thế chấp bất động sản: Ngày 28/03/2022 Ngân hàng thương mại cổ phần Đ4 - Do Ngân hàng thương mại cổ phần Đ4 - Chi nhánh A1 ký hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2022/17121723/HĐBĐ với ông Trần Văn N1. Theo hợp đồng ông N1 thế chấp quyền sử dụng đất gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CH008054, ngày 03/03/2022 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng cấp mang tên ông Trần Văn N1, thuộc thửa đất số 77, tờ bản đồ số 95, diện tích 888,5m², loại đất thương mại, dịch vụ, đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp A, thị trấn L, huyện L và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CH008055, ngày 03/03/2022 do Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Sóc Trăng cấp mang tên ông Trần Văn N1, thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 95, diện tích 4803,2m², loại đất trồng cây lâu năm, đất tọa lạc tại ấp A, thị trấn L, huyện L đã có đăng ký thế chấp tại Văn phòng đăng ký đất đai - Chi nhánh huyện L, tỉnh Sóc Trăng các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất các số: CH008054, CH008055, cùng ngày 03/03/2022 là phù hợp quy định tại Điều 317, 318, 319, 500, 501, 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 01/2022/17121723/HĐBĐ ngày 28/03/2022 ký kết giữa Ngân hàng với ông N1 có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành, cần duy trì để đảm bảo thi hành án thu hồi nợ cho Ngân hàng về sau nên được chấp nhận.
[5] Theo án lệ số 11/2017/AL trên đất có nhiều tài sản gắn liền với đất mà có tài sản thuộc sở hữu của người khác mà người sử dụng đất chỉ thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thì hợp đồng thế chấp có hiệu lực pháp luật và dành cho chủ sở hữu của người khác không phải là người sử dụng đất thì cần dành cho chủ sở hữu nhà đó được quyền ưu tiên nếu có nhu cầu mua nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng. Do dó, qua xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 09/01/2024 do Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng thực hiện, ghi nhận trên phần diện tích đất ông N1 thế chấp cho Ngân hàng gồm có các công trình, vật kiến trúc gồm: căn nhà của ông Q và bà Đ được xây dựng với kết cấu nhà tường, vách tường; căn nhà thứ hai có diện tích chiều ngang 4,8m x chiều dài 12m, được xây dựng với kết cấu vách tường, nền lát gạch men, và căn nhà thứ ba do ông Nguyễn Hữu S quản lý sử dụng: được xây dựng với kết cấp vách tường nên gạch men; căn nhà do ông Đ1, bà L1 quản lý sử dụng sẽ được tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng và ông N1 là phù hợp..
[6] Xét ý kiến trình bày và yêu cầu của ông Nguyễn Hữu Q, Hội đồng xét xử nhận thấy: Giữa ông Q, ông N1 và bà T2 thỏa thuận cho ông N1 và bà T2 mượn đất để vay tiền Ngân hàng là do các bên tự nguyện thương lượng và ông Q xác định đã sang tên quyền sử dụng đất cho ông N1 và bà T2. Xét văn bản nên ý kiến của ông Q xác định là ý kiến trình bày, không phải là yêu cầu độc lập đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Riêng Công ty Cổ phần D không đưa ra yêu cầu độc lập. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giữa ông Q, ông N1, bà T2 và Công ty có tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khác.
[7] Về án phí sơ thẩm: Ông Trần Văn N1 nộp theo quy định, trả lại tiền tạm ứng phí cho Ngân hàng.
[8] Về chi phí tố tụng: Ông Trần Văn N1 phải nộp 550.000đ để hoàn trả cho Ngân hàng tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 116, 117, 119, 317, 318, 319, 463, 500, 501, 502 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 90, Điều 91, Điều 94, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 147, 157, 158, 179, 217, 227; 228; 233, 244, 273, 278, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
-Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 đối với ông Trần Văn N1 – Chủ hộ kinh doanh Nhân Hậu.
Buộc ông Trần Văn N1 – Chủ hộ kinh doanh Nhân Hậu thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 - Do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 - Chi nhánh A1 đại diện nhận số tiền 4.963.860.107đ (bốn tỷ, chín trăm sáu mươi ba triệu, tám trăm sáu mươi ngàn, một trăm lẻ bảy đồng). Trong đó, tiền vốn: 4.000.000.000đ, tiền lãi trong hạn 614.882.192đ, tiền lãi quá hạn 297.435.616đ, tiền lãi chậm trả 51.542.299đ (tính đến ngày 12/12/2024)
Trường hợp ông Trần Văn N1 – Chủ hộ kinh doanh Nhân Hậu không thanh toán nợ hoặc thanh toán nợ không đầy đủ thì Ngân hàng thương mại cổ phần Đ4 có quyền làm đơn yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số: 01/2022/17121723/HĐBĐ ngày 28/03/2022 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 với ông Trần Văn N1 do Văn phòng C chứng nhận số 1522, quyển số 03/2022/TP/CC-SCC/HĐGD, ngày 30/03/2022. Đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 28/03/2022 tại Văn phòng Đăng ký đất đai huyện L, tỉnh Sóc Trăng để thi hành án.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Trần Văn N1 – Chủ hộ kinh doanh Nhân Hậu còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông Trần Văn N1 – Chủ hộ kinh doanh Nhân Hậu vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 đối với yêu cầu ông Trần Văn N1 - Chủ hộ kinh doanh Nhân Hậu và bà Nguyễn Thị Bé T2 liên đới trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng.
Về án phí:
Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 - Do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 - Chi nhánh A1 đại diện nhận số tiền 56.062.000đ, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002450 ngày 11 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Ông Trần Văn N1 – Chủ hộ kinh doanh Nhân Hậu phải nộp số tiền 112.963.860₫ (một trăm mười hai triệu, chín trăm sáu mươi ba ngàn, tám trăm sau mươi đồng) tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Về chi phí tố tụng: Ông Trần Văn N1 – Chủ hộ kinh doanh Nhân Hậu phải chịu trách nhiệm nộp số tiền 550.000đ tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền để hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 - Do Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ4 - Chi nhánh A1 đại diện nhận.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
(Đã giải thích Điều 26 Luật thi hành án dân sự).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn P1 |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
9
Bản án số 41/2024/KDTM-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất.
- Số bản án: 41/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ND Ngân hàng thương mại cổ phần; BD Trần Văn N
