Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HNGĐ - PT

Ngày: 12 - 12 - 2024.

V/v“Tranh chấp chia tài sản khi

ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Gia Lương.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Thông.

Bà Hoàng Thị Hải Hường.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên trung cấp, tham gia phiên tòa.

Ngày 12/12/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 40/2024/TLPT- HNGĐ ngày 08/10/2024 về việc: “Tranh chấp chia tài sản khi ly hôn”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 49/2024/HNGĐ-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 42/2024/QĐ-PT ngày 05/11/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 49 ngày 22/11/2024; giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Đỗ Ngọc A, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và không mời Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại giai đoan xét xử phúc thẩm).

* Bị đơn: Chị Vũ Thị H, sinh năm 1992 (Có mặt).

Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố C, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang;

Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố T, thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

* Người kháng cáo: Bị đơn chị Vũ Thị H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các bản tự khai và các biên bản làm việc tiếp theo, nguyên đơn anh Đỗ Ngọc A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Vũ Thị H, đăng ký kết hôn tại UBND xã N (nay là thị trấn N) vào ngày 18/3/2015. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại tổ dân phố C, thị trấn N, huyện T. Quá trình chung sống, năm 2016, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong làm ăn kinh tế. Vợ chồng thường xuyên cãi vã, to tiếng, gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Tháng 4/2024, do mâu thuẫn trầm trọng nên chị H bỏ về nhà mẹ đẻ tại tổ dân phố T, thị trấn N sinh sống, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân không thể kéo dài nên anh xin ly hôn chị H.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là Đỗ Ngọc L, sinh ngày 04/12/2015 và Đỗ Ngọc Đan L1, sinh ngày 28/3/2020. Cháu L đang ở với anh còn cháu Lê Đ ở với chị H. Ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao cho anh trực tiếp nuôi dưỡng cháu L, giao cho chị H trực tiếp nuôi cháu L1. Ngoài ra anh không yêu cầu giải quyết vấn đề nào khác.

Tại phiên tòa anh Ngọc A thống nhất thỏa thuận với chị H về con chung như sau: Đồng ý để chị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đỗ Ngọc L, sinh ngày 04/12/2015, anh trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đỗ Ngọc Đan L1, sinh ngày 28/3/2020.

* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Tại phiên tòa nguyên đơn và bị đơn đã thỏa thuận được về việc ly hôn và con chung đề nghị Hội đồng xét xử xem xét công nhận sự thỏa thuận của các bên.

* Bị đơn là chị Vũ Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị đồng ý ly hôn với anh Đỗ Ngọc A.

Về con chung chị không đồng ý với yêu cầu của anh Đỗ Ngọc A. Chị xin được nuôi con chung là Đỗ Ngọc L, sinh ngày 04/12/2015 đề nghị giao cho anh Ngọc A nuôi con chung là Đỗ Ngọc Đan L1, sinh ngày 28/3/2020. Chị không đề nghị Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.

Chị yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng như trong đơn chị đã trình bày.

Với nội dung nêu trên, bản án dân sự sơ thẩm số: 49/2024/HNGĐ-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 189, khoản 3 Điều 200, Điều 202, Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Ngọc A và chị Vũ Thị H thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đỗ Ngọc L, sinh ngày 04/12/2015; giao cho anh Đỗ Ngọc A trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đỗ Ngọc Đan L1, sinh ngày 28/3/2020.

Anh Đỗ Ngọc A và chị Vũ Thị H có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Anh Đỗ Ngọc A và chị Vũ Thị H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo cho các đương sự.

Ngày 26/8/2024, chị Vũ Thị H là bị đơn kháng cáo, nội dung kháng cáo đề nghị Toà phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm số: 49/2024/HNGĐ-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, thụ lý lại từ đầu bởi không đưa tài sản chung vào xét xử trong cùng một vụ án nên không đảm bảo quyền lợi cho bị đơn.

Tại phiên Toà phúc thẩm, anh Đỗ Ngọc A là nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị Vũ Thị H là bị đơn không rút đơn kháng cáo. Do vắng mặt của nguyên đơn nên các đương sự không thoả thuận được với nhau về giải quyết vụ án.

Chị Vũ Thị H trình bày: Về phần giải quyết tài sản chung, Tòa sơ thẩm không giải quyết trong vụ án này là không đảm bảo quyền lợi cho chị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS xử: Không chấp nhận kháng cáo của chị Vũ Thị H; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Do kháng cáo của chị Vũ Thị H nên chị H phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến tranh luận tại phiên toà. Sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Đỗ Ngọc A là nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt anh Đỗ Ngọc A.

[2]. Xét kháng cáo của chị Vũ Thị H là bị đơn đề nghị Toà phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm số: 49/2024/HNGĐ-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang, thụ lý lại từ đầu bởi không đưa tài sản chung vào xét xử trong cùng một vụ án nên không đảm bảo quyền lợi cho bị đơn, Hội đồng xét xử thấy:

Về yêu cầu chia tài sản của chị Vũ Thị H là bị đơn: Trong vụ án này nguyên đơn anh Đỗ Ngọc A chỉ yêu cầu giải quyết ly hôn và con chung, không yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa sơ thẩm đã triệu tập nhưng chị H không đến làm việc, chị H có gửi đơn trình báo và đề nghị trong đó có nội dung đề nghị chia tài sản chung nhưng không liệt kê về tài sản chung và không có yêu cầu phân chia tài sản cụ thể. Ngày 20/5/2024, Tòa sơ thẩm đã lập biên bản giải thích để chị H thực hiện việc yêu cầu Tòa án chia tài sản theo quy định tại Điều 189, Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự (Bút lục số 46), nhưng chị H không thực hiện. Chị H chưa có đơn yêu cầu chia tài sản và chưa nộp tiền tạm ứng án phí.

Tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ ngày 26/6/2024, Tòa sơ thẩm chấp nhận giải quyết về việc ly hôn và con chung.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị Vũ Thị H yêu cầu giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng là sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu của nguyên đơn, không phù hợp với khoản 3 Điều 200, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, Tòa sơ thẩm không chấp nhận xem xét giải quyết yêu cầu chia tài sản của chị H trong vụ án này, sau này các đương sự có quyền yêu giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu, là có căn cứ.

[3]. Tại phiên tòa phúc thẩm chị Vũ Thị H không xuất trình được các tài liệu chứng cứ gì mới để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp, nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét đối với kháng cáo của chị H, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm đã xét xử như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

[4]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng của chị Vũ Thị H không được chấp nhận nên chị H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[5]. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

1. Không chấp nhận kháng cáo của chị Vũ Thị H; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 189, khoản 3 Điều 200, Điều 202, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Ngọc A và chị Vũ Thị H thuận tình ly hôn.

- Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đỗ Ngọc L, sinh ngày 04/12/2015; giao cho anh Đỗ Ngọc A trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Đỗ Ngọc Đan L1, sinh ngày 28/3/2020.

Anh Đỗ Ngọc A và chị Vũ Thị H có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Anh Đỗ Ngọc A và chị Vũ Thị H không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

2. Về án phí: Chị Vũ Thị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm.

Xác nhận chị Vũ Thị H đã nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự phúc thẩm tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007024 ngày 05/9/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND huyện Tân Yên;
  • - VKSND huyện Tân Yên;
  • - CCTHADS huyện Tân Yên;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Gia Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HNGĐ - PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 41/2024/HNGĐ - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn giữa A-H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger