Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày 27 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Châm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Anh Tuấn

Ông Phan Thanh Bắc

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuý Dần - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Lưu Ngọc Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/HSST ngày 01 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trung K; tên gọi khác: Không; sinh năm: 1970, tại: tỉnh Hà Nam; Nơi ĐK thường trú và nơi ở trước ngày bị bắt: Đội C17, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Y (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); có vợ là Đặng Thị H và 01 người con riêng của vợ sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xử lý vi phạm hành chính, đã bị kết án: Ngày 30/9/2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt 05 năm tù về tội Mua bán phụ nữ; Ngày 30/7/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý; 02 Bản án này bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/9/2024 sau đó bị tạm giam cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Đội C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 04/9/2024, Nguyễn Trung K đi bộ từ nhà mục đích tìm mua Heroine để sử dụng và bán. Khi đi đến đầu đường thuộc đội C17, xã T, huyện Đ, K gặp và hỏi mua được của một người đàn ông dân tộc T khoảng 40 tuổi (không biết tên, địa chỉ) 01 gói Heroine, với giá 500.000 đồng. Mua xong, K cầm gói ma tuý về nhà mở gói ra dùng tay cấu chia thành 04 cục nhỏ H1, rồi dùng mảnh nilon màu đen gói 03 cục H3 thành 03 gói, dùng bật lửa ga hàn kín miệng 03 gói lại, còn 01 cục Heroine K cho vào túi nilon màu trắng. Sau đó, K cho toàn bộ số Heroine vào trong 01 chiếc túi nilon màu trắng và cầm ở tay phải, còn chiếc bật lửa ga và mảnh nilon màu trắng ban đầu K ném vào bếp lửa. Khoảng 10 giờ cùng ngày, khi K đang ở nhà thì Nguyễn Thị L1 đến hỏi mua 100.000 đồng Heroine, K đồng ý nhận tiền rồi lấy 01 gói Heroine gói ngoài bằng nilon màu đen đưa cho L1. Mua được H1, L1 mang ra bờ ruộng ở khu vực đội C17, xã T, huyện Đ sử dụng hết bằng hình thức hít. Sau khi bán Heroine cho L1, K cất tiền và số Heroine còn lại vào túi quần bên phải đang mặc. Hồi 12 giờ 45 phút cùng ngày, khi K đang ngồi ở bếp nhà mình và lấy túi Heroine ra để chuẩn bị sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại tay phải K đang cầm 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 01 túi nilon màu trắng và 02 gói nilon màu đen đều chứa các cục chất bột màu trắng nghi là Heroine. Thu giữ tại túi quần bên phải K đang mặc 100.000 đồng, tiền bán Heroine cho L1. Tổ công tác mời người chứng kiến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 04/9/2024 tại Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã xác định: Tổng các gói chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Trung K có khối lượng là 0,84 gam, gửi toàn bộ làm mẫu vật giám định chất ma tuý. Tại bản kết luận giám định số: 1442/KL-KTHS ngày 10/9/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Trung K gửi giám định là chất ma túy loại Heroine; H2 lại mẫu vật gửi giám định là 0,76 gam. Tại bản kết luận giám định số: 1435/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ đã kết luận: 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 50.000đ (năm mươi nghìn đồng) có số mã hiệu cụ thể: RM 16516072, VS 17727532 gửi giám định là tiền thật; H2 lại toàn bộ mẫu vật gửi giám định.

Tại Bản cáo trạng số: 219/CT-VKSHĐB ngày 01/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Nguyễn Trung K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,76 gam Heroine (là vật chứng hoàn lại sau giám định); tịch thu tiêu hủy: 02 túi nilon màu trắng miệng túi có nẹp bấm cố định và 02 mảnh nilon màu đen; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng của Nguyễn Trung K do bị cáo phạm tội mà có. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không tranh luận và hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng, Luận tội của Kiểm sát viên.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 04/9/2024, tại nhà ở của mình thuộc đội C, xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên, Nguyễn Trung K đã có hành vi trao đổi, bán trái phép 01 gói Heroine cho Nguyễn Thị L1 thu được 100.000 đồng và cất giấu trái phép trên người 0,84 gam Heroine, mục đích để sử dụng và bán lẻ kiếm lời. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng, Kết luận giám định, Kết luận điều tra và các bản cung, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Về tính chất, mức độ, động cơ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng cũng như nhận thức được chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với những hành vi mua bán, tàng trữ,... trái phép chất ma túy nhưng để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân và do hám lời nên bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi trao đổi, mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm những quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Tội phạm mà bị cáo vi phạm là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý vi phạm hành chính, đã bị kết án:

Ngày 30/9/2005, bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt 05 năm tù về tội Mua bán phụ nữ, chấp hành đến ngày 23/10/2007 được đặc xá tha tù trước thời hạn; Ngày 30/7/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên xử phạt 01 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, ngày 16/01/2014 chấp xong hình phạt tù; Hai bản án này bị cáo đã được xóa án tích nhưng thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu.

Tại Bản án số 95/2005/HSST ngày 30/9/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên thể hiện: Bị cáo tên là Nguyễn Minh T1, có tên gọi khác là Nguyễn Văn K1, sinh năm 1972. Tại Bản án số 41/2013/HSPT ngày 30/7/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên thể hiện: Bị cáo tên là Nguyễn Trung K, có tên gọi khác là Nguyễn Minh T1 và Nguyễn Văn K1, sinh năm 1972. Lý lịch trong hồ sơ xét xử bị cáo lần phạm tội này thể hiện: Bị cáo tên là Nguyễn Trung K, không có tên gọi khác, sinh năm 1970. Tại Công văn số 73/CCCP-PV06 ngày 09/10/2024 của Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đ đã kết luận: V tay trên danh chỉ bản số [...] ghi tên Nguyễn Trung K sinh năm 1970, do Công an huyện Đ lập ngày 13/09/2024 đồng nhất với vân tay đối tượng Nguyễn Minh T1 và Nguyễn Trung K tại 02 bản án hình sự nêu trên trong cơ sở dữ liệu có thông tin lai lịch và tiền án, tiền sự.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo có bố vợ là ông Đặng Đức Đ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt đối với bị cáo: Sau khi xem xét về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Hình phạt chính: Cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cai nghiện đồng thời giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội. Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập chủ yếu từ làm nông nghiệp không ổn định, không có tài sản có giá trị. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án: 0,76 gam Heroine (là vật chứng hoàn lại sau giám định) là vật thuộc loại nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần bị tịch thu tiêu hủy. Số tiền 100.000 đồng do bị cáo bán ma túy cho Nguyễn Thị L1 là tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước; 02 túi nilon màu trắng miệng túi có nẹp bấm cố định và 02 mảnh nilon màu đen không còn giá trị sử dụng nên cần bị tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[6] Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho bị cáo do bị cáo không biết tên tuổi và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ được, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Thị L1 người đã mua 01 gói ma tuý của bị cáo vào ngày 04/9/2024, quá trình điều tra L1 khai nhận đã sử dụng hết số ma tuý mua được, do đó không xác định được khối lượng chất ma tuý nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 15/10/2024, Công an huyện Đ ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị L1, hình phạt Cảnh cáo, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9] Về các hành vi và Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc có khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng huyện Đ, tỉnh Điện Biên đã thực hiện đều hợp pháp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự;

  1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 04/9/2024).

  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy: 0,76 gam Heroine (là vật chứng hoàn lại sau giám định)
    • Tịch thu tiêu hủy: 02 túi nilon màu trắng, miệng túi có nẹp bấm cố định và 02 mảnh nilon màu đen.
    • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 100.000 đồng của Nguyễn Trung K do bị cáo phạm tội mà có. (đã thu)

    (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2024 giữa Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên).

  4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/11/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên;
  • - VKSND huyện Điện Biên;
  • - Công an huyện Điện Biên;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Điện Biên;
  • - Bộ phận HSNV CA huyện Điện Biên;
  • - Chi cục THADS huyện Điện Biên;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hs, hs THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHÊN TÒA

Phạm Thị Châm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Trung K phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger