TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày 24 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Giang Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Thái Hoàng Bo
Bà Nguyễn Kim Kết
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Kiều Chinh là Thư ký Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Kim - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Tuấn K, sinh năm 1995 tại tỉnh Bạc Liêu; nơi cư trú: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Trương Thanh T; có vợ Châu Thị Thúy H và 01 người con; tiền án: 03 về các tội: Ngày 24/7/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/02/2018 nhưng chưa được xóa án tích; ngày 14/4/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành hình phạt nhưng chưa nộp án phí và bồi thường trách nhiệm dân sự; ngày 18/4/2022 bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt 03 năm 04 tháng tù, đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/01/2024 nhưng chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt tù, án phí và được xóa án tích do thời điểm tuyên án chưa đủ 18 tuổi; bị bắt, tạm giữ ngày 13/5/2024, đến ngày 19/5/2024 chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt.
- Hoàng Bắc N, sinh năm 1990 tại tỉnh Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp T, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Mạnh T1 và bà Nguyễn Thị T2; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ ngày 13/5/2024, đến ngày 19/5/2024 chuyển tạm giam đến nay. Bị cáo có mặt.
- Bị hại:
- Chị Nguyễn Hồng M, sinh năm 1992; địa chỉ cư trú: Ấp H, xã N, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. (vắng mặt).
- Anh Trần Hải Đ, sinh năm 2000; địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ ngày 11/5/2024, Nguyễn Tuấn K và H1 Bắc Nam thuê xe grab xuất phát đi từ nhà nghỉ H2 thuộc khóm C, thị trấn C, huyện C đến nhà nghỉ H3 thuộc khóm A, thị trấn Đ, huyện Đ để lưu trú. Khi đến nơi, K thấy nhà nghỉ không có người trông coi nên rủ N lấy trộm xe máy được N đồng ý. Cả hai đi vào khu vực bãi để xe của nhà nghỉ, K dùng cây tua vít cạy mở khóa lấy trộm 01 xe máy hiệu Exciter 150 không gắn biển kiểm soát của anh Trần Hải Đ và 01 xe máy hiệu Wave alpha biển kiểm soát 69F1-813.12 của chị Nguyễn Hồng M. Sau đó K điều khiển xe hiệu Exciter 150, còn N điều khiển xe hiệu Wave alpha ra khỏi nhà nghỉ đi đến nhà ông Nguyễn Văn C là ông nội của K ở ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu cất giấu.
Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, K gửi lại xe máy hiệu Wave alpha ở nhà ông C rồi điều khiển xe máy hiệu Exciter 150 chở N đi về hướng Cà Mau. Khi đến quán C1 thuộc ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu phát hiện không có người trông coi, N đứng bên ngoài cảnh giới, K đi vào trong dùng tua vít cạy khóa lấy trộm 01 xe máy hiệu Sirius 50cc, biển kiểm soát 94AH-048.33 của anh Phạm Minh K1 để cạnh hồ bơi. Lấy trộm xong, K điều khiển xe máy hiệu Sirius, còn N điều khiển xe máy hiệu Exciter 150 đi đến Bệnh viện đa khoa huyện P, tỉnh Bạc Liêu thì K vào bên trong bãi giữ xe gửi chiếc xe máy hiệu Exciter 150, rồi tiếp tục điều khiển xe máy hiệu Sirius 50cc đi đến Bệnh viện đa khoa huyện H, tỉnh Bạc Liêu gửi vào bãi giữ xe. Sau đó, cả hai đi xe khách về huyện C, tiếp tục thuê xe G đi đến khu vực ấp C, xã T, huyện Đ để thuê nhà nghỉ lưu trú.
Đến ngày 12/5/2024, K và N bị lực lượng Công an thị trấn Đ mời làm việc, qua điều tra cả hai thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 07 và 08/KL-ĐGTS cùng ngày 17/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: 01 xe máy hiệu Yamaha Exciter 150 có giá trị 20.666.666 đồng; 01 xe máy hiệu Honda Wave alpha có giá trị 11.333.333 đồng. Tổng giá trị tài sản là 31.999.999 đồng.
Bản Cáo trạng số: 39/CT-VKS ngày 28/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố các bị cáo Nguyễn Tuấn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; Hoàng Bắc N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát bảo vệ toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn K mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng Bắc N mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Chị M và anh Đ không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.
Về xử lý vật chứng: 01 xe máy hiệu Wave alpha, biển kiểm soát 69F1-813.12; 01 xe máy hiệu Exciter 150. Các tài sản trên đã giao trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Tuấn K và Hoàng Bắc N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo K nói lời sau cùng: Từ khi bị cáo bị tạm giam đến nay, bị cáo ăn năn hối cải. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm về nuôi con nhỏ và làm người có ích cho xã hội.
Bị cáo N nói lời sau cùng: Từ khi bị cáo bị tạm giam đến nay, bị cáo ăn năn hối cải. Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Anh Đ và chị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn trình bày ý kiến và đề nghị Tòa án xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vắng mặt anh Đ và chị M.
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Tuấn K và Hoàng Bắc N thừa nhận hành vi. Vào khoảng 00 giờ ngày 11/5/2024 lợi dụng lúc đêm khuya các bị cáo K và N lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 xe máy hiệu Exciter 150 không gắn biển kiểm soát của anh Trần Hải Đ và 01 xe máy hiệu Wave alpha biển kiểm soát 69F1-813.12 của chị Nguyễn Hồng M để tại bãi xe nhà nghỉ H3 thuộc khóm A, thị trấn Đ, huyện Đ có tổng giá trị tài sản 31.999.999 đồng. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có tại hồ sơ. Từ đó, bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo K khi phạm tội đã bị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử 03 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Do đó, hành vi phạm tội chiếm đoạt 02 xe máy lần này của bị cáo K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Theo khoản 1 và điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
- Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, ...thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
- Tái phạm nguy hiểm”.
Từ đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đầm Dơi truy tố bị cáo Hoàng Bắc N về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Tuấn K về tội trộm cắp tài sản theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Xét tính chất và mức độ về hành vi phạm tội của các bị cáo N và K là nguy hiểm cho xã hội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và nghiêm trọng. Khi phạm tội các bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, là vi phạm nghiêm trọng pháp luật hình sự. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, khi phạm tội các bị cáo có đủ năng lực hành vi và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Nguyên nhân phạm tội của các bị cáo là không muốn lao động mà vẫn muốn được hưởng thụ thành quả lao động của người khác; động cơ và mục đích phạm tội của các bị cáo là để có tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi vi phạm của các bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Do đó, Hội đồng xét xử cân nhắc buộc các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
- Trong vụ án này các bị cáo K và N cùng nhau thực hiện hành trộm cắp 02 xe máy nên phải bị xử lý theo quy định về đồng phạm. Tuy nhiên, giữa các bị cáo không có sự phân công vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng bị cáo nên hành vi của các bị cáo chỉ mang tính đồng phạm giản đơn. Bị cáo K là người chủ động trao đổi, rủ bị cáo N và K là người trực tiếp bẻ khóa xe nên vai trò của bị cáo K cao hơn bị cáo N. Do đó, hình phạt của bị cáo K phải cao hơn bị cáo N.
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, nhưng bị cáo K có nhân thân xấu thể hiện: Ngày 15/11/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo N có nhân thân tốt, thể hiện không tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo có cha ông Hoàng Mạnh T1 được tặng thưởng nhiều Huy chương, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo K, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ đó, Hội đồng xét xử có xem xét đầy đủ hành vi, tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Nên cần có mức án nghiêm khắc đối với các bị cáo, cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có điều kiện học tập, lao động trở thành người công dân có ích cho xã hội.
- Đối với hành vi của các bị cáo K và N chiếm đoạt 01 xe máy hiệu Sirius 50cc, biển kiểm soát 94AH-048.33 của anh Phạm Minh K1 tại ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bạc Liêu thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền là phù hợp theo quy định.
- Đối với ông Nguyễn Văn C, do không biết đây là tài sản do các bị cáo K và N phạm tội mà có, nên không đề cập xử lý là phù hợp.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Đ và chị M không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong, nên không đặt ra xem xét.
- Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Tuấn K và Hoàng Bắc N, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.
- Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tuấn K và H1 Bắc Nam phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn K 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 5 năm 2024.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Bắc N 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 5 năm 2024.
- Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Tuấn K và Hoàng Bắc N, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Giang Nam |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt và Hoàng Bắc Nam phạm tội “Trộm cắp tài sản”. 2. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 5 năm 2024. 3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Bắc Nam 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13 tháng 5 năm 2024. 4. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Tuấn Kiệt và Hoàng Bắc Nam, mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
