|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày: 12/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Minh Toàn
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông: Đinh Minh Tặng
Bà: Cao Thị Thu Ngà
- Thư ký phiên toà: ông Cao Lương Bằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Minh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá tham gia phiên tòa:
bà Cao Thị Mỹ Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 27/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Lê Thế A, tên gọi khác: “Sọt”; giới tính: nam; sinh ngày: 10/10/1997 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký HKTT: tiểu khu D, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh, tôn giáo: Công giáo; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; bố: Lê Đức N, sinh năm 1972; mẹ: Nguyễn Thị Y, sinh năm 1976; anh chị em ruột: có 04 người, A là con thứ hai trong gia đình; vợ, con: chưa có; tiền án: ngày 14/6/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/5/2023; tiền sự: không.
- Trần Mạnh H, tên gọi khác: không có tên gọi khác; giới tính: nam; sinh ngày: 30/3/1993 tại xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi đăng ký HKTT: tiểu khu D, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Quảng Bình; quốc tịch: Việt Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: không theo tôn giáo; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; bố: Trần Xuân H1, sinh năm 1960 (đã chết); mẹ: Nguyễn Thị H2, sinh năm 1966; anh chị em ruột: có 04 người, H là con út trong gia đình; vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1993; con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án: ngày 14/07/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/03/2023; tiền sự: ngày 14/12/2023 bị Công an thị trấn Đ, huyện T xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”; ngày 05/03/2024 bị Công an huyện T khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội Trộm cắp tài sản, đồng thời bắt bị cáo để tạm giam từ ngày 05/03/2024 cho đến nay.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/06/2024 đến ngày 20/06/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện M, có mặt;
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q, có mặt.
- Bị hại: ông Cao Trọng T; sinh năm 1968; địa chỉ: thôn V, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- anh Đinh Minh Đ; sinh năm 1988; địa chỉ: thôn Y, xã Y, huyện M, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt;
- chị Cao Thị P; sinh năm 2002; địa chỉ: thôn Y, xã Y, huyện M, tỉnh Quảng Bình; vắng mặt;
- anh Đinh Văn V; sinh năm 1989; địa chỉ: thôn T, xã H, huyện M, tỉnh Quảng Bình; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút một ngày của tháng 11 năm 2023, Lê Thế A bảo Trần Mạnh H chở Anh đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài, H đồng ý nên sử dụng xe mô tô của mình chở Lê Thế A đi trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước nhà ông Cao Trọng T ở Tổ tự quản Cầu R, xã H thì Lê Thế A bảo H dừng lại, A xuống xe bảo H chạy xe đi chỗ khác chờ, còn Anh vào trộm đồ. Khi đi vào, Anh thấy cửa chính đóng nhưng không khóa nên dùng tay kéo cửa rồi đi vào nhà thì nhìn thấy ở phòng bếp có 01 cái tủ lạnh hiệu PANASONIC màu xám, 01 cái bếp ga và 01 bình ga màu xanh nên Anh nảy sinh ý định trộm cắp, nhưng do xe không chở hết nên A lấy 01 cái bếp ga và 01 bình ga đem ra đường rồi gọi điện cho H đến chở. H điều khiển xe đến chở A và 01 bếp ga, 01 bình ga đi vào thị Trấn Q, huyện M theo sự chỉ dẫn của A. Trên đường đi Anh gọi điện cho Đinh Minh Đ hỏi bán bếp ga, Đ đồng ý mua 01 bếp ga và 01 bình ga với giá 500.000 đồng và bảo A chở đến nhà Đ ở thôn Y, xã Y, huyện M. Khi đến nhà Đ, không có Đ ở nhà, vợ Đ là chị Cao Thị P nhận bếp ga và bình ga rồi đưa cho Anh 500.000 đồng. Sau khi nhận tiền H và A đi mua ma túy sử dụng. Khi sử dụng ma túy xong, A và H đến uống cà phê tại quán T1 ở tổ dân phố A, thị trấn Q, khi ngồi uống cà phê thì A gọi điện thoại hẹn Đ đến uống cà phê cùng, khi Đ đến Anh nói với Đ: “ở nhà còn một cái tủ lạnh nữa bán 2.000.000 đồng có mua không?”, Đ nói “có” nhưng chưa có tiền nên A nói cho Đ trả sau. Sau đó H điều khiển xe chở Anh quay lại vị trí trộm ban đầu. Khi đến, H dừng xe đứng trước cổng, Anh vào nhà để lấy tủ lạnh nhưng một mình không bê được nên A gọi H vào bê tủ lạnh ra buộc sau xe mô tô, còn Anh ngồi phía trước ghi đông xe. Hổ Điều khiển xe chở A và tủ lạnh tới nhà Đ (lúc này khoảng 22 giờ cùng ngày), sau khi đem tủ lạnh vào nhà, Đ đưa cho Anh 600.000 đồng rồi H và A ra về. Sáng ngày hôm sau Anh vào gặp Đ đòi số tiền còn lại thì Đ đưa cho Anh 500.000 đồng. Đến buổi chiều cùng ngày thì H vào gặp Đ tiếp tục đòi số tiền còn lại, Đ đưa cho H 500.000 đồng. Đến khoảng 3 ngày sau thì Anh với H lại điều khiển xe vào nhà Đ để đòi số tiền còn lại, lúc này Đ không có đủ tiền nên đưa cho A 200.000 đồng nên A nói “còn 200.000 đồng em cho anh không đòi nữa”, rồi A và H ra về.
Sau một thời gian sử dụng, thấy tủ lạnh không hoạt động tốt, nên vào ngày 06/12/2023, Đinh Minh Đ bán tủ lạnh cho Đinh Văn V ở thôn T, xã H với giá 3.000.000 đồng. Đến ngày 10/12/2023 ông Cao Trọng T phát hiện đó là tài sản mình bị mất trộm nên báo Công an giải quyết.
* Tại Bản kết luận định giá số 34/KL-HĐĐGTS ngày 28/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện M kết luận:
Trị giá 01 tủ lạnh màu xám tro, nhãn hiệu PANASONIC, loại tủ đứng có hai cửa, một cửa trên và một cửa dưới, đã qua sử dụng, tại thời điểm phát hiện bị mất trộm vào ngày 09/12/2023 là 1.260.000 đồng;
Trị giá 01 bếp gas màu đen, nhãn hiệu SIKUZA, loại có hai bếp nấu, bếp đã qua sử dụng, tại thời điểm phát hiện bị mất trộm vào ngày 09/12/2023 là 380.000 đồng;
Trị giá 01 bình gas màu xanh dương, nhãn hiệu PETROLIMEX, đã qua sử dụng, tại thời điểm phát hiện bị mất trộm vào ngày 09/12/2023 là 600.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị mất trộm là 2.240.000 đồng.
Vật chứng vụ án bao gồm:
- - 01 tủ lạnh màu xám tro, nhãn hiệu PANASONIC, loại tủ đứng có hai cửa, một cửa trên và một cửa dưới, đã qua sử dụng;
- - 01 bếp gas màu đen, nhãn hiệu SIKUZA, loại có hai bếp nấu, bếp đã qua sử dụng;
- - 01 bình gas màu xanh dương, nhãn hiệu PETROLIMEX, đã qua sử dụng;
- - 01 căn cước công dân mang tên Lê Thế A, số CCCD [...], cấp ngày 27/12/2021. Nơi cấp: Cục C về TTXH;
- - 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, loại A3s, màu đỏ - đen, số Imel 1: 866056041656294; số imel 2: 866056041656586. Trong điện thoại có lắp 02 sim của nhà mạng V1, sim 1: 0369470407; sim 2: 0386683807, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.
Đối với chiếc xe mô tô Trần Mạnh H sử dụng chở Lê Thế A đi trộm cắp tài sản, khoảng 07 ngày sau khi chở A đi trộm cắp, Trần Mạnh H đem xe bán cho tiệm cầm đồ nên không tạm giữ được; chiếc điện thoại Lê Thế A sử dụng liên lạc bán bếp ga và bình ga cho Đinh Minh Đ, quá trình lẩn trốn vào miền nam, Lê Thế A đã làm mất nên không thu giữ được.
Xử lý vật chứng: ngày 07/05/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là ông Cao Trọng T: 01 tủ lạnh màu xám tro, nhãn hiệu PANASONIC, loại tủ đứng có hai cửa, một cửa trên và một cửa dưới, đã qua sử dụng; 01 bếp gas màu đen, nhãn hiệu SIKUZA, loại có hai bếp nấu, bếp đã qua sử dụng; 01 bình gas màu xanh dương, nhãn hiệu PETROLIMEX, đã qua sử dụng.
Số vật chứng còn lại bao gồm: 01 căn cước công dân mang tên Lê Thế A, số CCCD [...], cấp ngày 27/12/2021; nơi cấp: Cục C về TTXH; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, loại A3s, màu đỏ - đen, số Imel 1: 866056041656294; số imel 2: 866056041656586. Trong điện thoại có lắp 02 sim của nhà mạng V1, sim 1: 0369470407; sim 2: 0386683807, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong. Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, người bị hại Cao Trọng T nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo bồi thường. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đinh Minh Đ yêu cầu bị cáo Lê Thế A, Trần Mạnh H trả lại số tiền 2.300.000 đồng. Ông Đinh Văn V yêu cầu Đinh Minh Đ trả lại số tiền 3.000.000 đồng.
Cáo trạng số: 35/CT-VKSMH ngày 22/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Minh Hoá quyết định truy tố các bị cáo Lê Thế A, Trần Mạnh H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thế A từ 12 tháng đến 15 tháng tù; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Mạnh H từ 09 tháng đến 12 tháng tù
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Lê Thế A 01 căn cước công dân mang tên Lê Thế A, số CCCD [...], cấp ngày 27/12/2021; nơi cấp: Cục C về TTXH; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, loại A3s, màu đỏ - đen, số Imel 1: 866056041656294; số imel 2: 866056041656586. Trong điện thoại có lắp 02 sim của nhà mạng V1, sim 1: 0369470407; sim 2: 0386683807, điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết bên trong.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện M, Viện kiểm sát huyện M, Điều tra viên, Kiểm sát viên: trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội: lợi dụng sơ hở trong việc quản lý và bảo vệ tài sản của ông Cao Trọng T vắng nhà nên Lê Thế A và Trần Mạnh H đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 tủ lạnh, 01 bếp gas, 01 bình gas của ông Cao Trọng T. Tổng trị giá tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt là 2.240.000 đồng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Lê Thế A, Trần Mạnh H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội đó phù hợp lời khai của người bị hại và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện và đầy đủ chứng cứ về thời gian, địa điểm, loại tài sản, giá trị tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt, ý kiến của Kiểm sát viên. Do đó đủ cơ sở để khẳng định các bị cáo Lê Thế A, Trần Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp chiếm đoạt tài sản của ông Cao Trọng T đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội cần được xử lý nghiêm. Bị cáo Lê Thế A và Trần Mạnh H phạm tội trong thời gian chưa được xoá án tích thuộc trường hợp tái phạm, bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Vì vậy cần áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để lên cho các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra đồng thời cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tuy nhiên Hội đồng xét xử cần xem xét cho các bị cáo quá trình điều tra và tại phiên toà đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng thiệt hại không lớn. Vì vậy cần áp dụng điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: các bị cáo Lê Thế A, Trần Mạnh H thực hiện hành vi phạm tội gây thiệt hại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Đinh Minh Đ nên phải có nghĩa vụ bồi thường theo quy định của pháp luật. Vì vậy cần áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 587, 589 Bộ luật dân sự buộc Lê Thế A, Trần Mạnh H có nghĩa vụ bồi thường cho anh Đinh Minh Đ số tiền 2.300.000 đồng, cụ thể theo phần: Lê Thế A 1.150.000 đồng, Trần Mạnh H 1.150.000 đồng. Anh Đinh Minh Đ có nghĩa vụ trả lại số tiền bán tài sản cho anh Đinh Văn V số tiền 3.000.000 đồng.
[4] Vật chứng vụ án: sau khi xác định chủ sở hữu, ngày 07/5/2024 cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện M đã trả lại cho ông Cao Trọng T 01 tủ lạnh màu xám tro, nhãn hiệu PANASONIC; 01 bếp gas màu đen, nhãn hiệu SIKUZA; 01 bình gas màu xanh dương, nhãn hiệu PETROLIMEX. Việc xử lý vật chứng của cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện M đúng quy định pháp luật; ông Cao Trọng T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm.
Đối với vật chứng: 01 căn cước công dân mang tên Lê Thế A, số CCCD [...], cấp ngày 27/12/2021; nơi cấp: Cục C về TTXH và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, loại A3s, màu đỏ - đen, số Imel 1: 866056041656294; số imel 2: 866056041656586. Trong điện thoại có lắp 02 sim của nhà mạng V1, sim 1: 0369470407; sim 2: 0386683807: 02 vật chứng này bị cáo Lê Thế A không sử dụng vào việc phạm tội nên áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Lê Thế A. Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/9/2024.
Trong vụ án này anh Đinh Minh Đ là người mua tài sản của các bị cáo Lê Thế A và Trần Mạnh H nhưng Đinh Minh Đ không biết tài sản do trộm cắp mà có nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
Hiện tại bị cáo Trần Mạnh H đang chấp hành hình phạt tù 03 năm về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án số 28/2024/HS-ST ngày 09/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, do bản án đang bị Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xem xét kháng nghị giám đốc thẩm nên chưa tổng hợp hình phạt của nhiều bản án.
Án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm; anh Đinh Minh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Lê Thế A và bị cáo Trần Mạnh H và phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lê Thế A 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 17/6/2024). Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày theo Quyết định của Hội đồng xét xử.
Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
-
Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 587, 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Lê Thế A và bị cáo Trần Mạnh H phải bồi thường cho anh Đinh Minh Đ số tiền là 2.300.000 đồng (hai triệu ba trăm ngàn đồng); theo phần: bị cáo Lê Thế A là 1.150.000 (một triệu một trăm năm mươi ngàn đồng) và bị cáo Trần Mạnh H là 1.150.000 (một triệu một trăm năm mươi ngàn đồng)
Anh Đinh Minh Đ có nghĩa vụ trả lại cho anh Đinh Văn V số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong án, khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
-
Về vật chứng vụ án: áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo Lê Thế A: 01 căn cước công dân mang tên Lê Thế A, số CCCD [...], cấp ngày 27/12/2021; nơi cấp: Cục C về TTXH và 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, loại A3s, màu đỏ đen, số Imel 1: 866056041656294; số imel 2: 866056041656586. Trong điện thoại có lắp 02 sim của nhà mạng V1, sim 1: 0369470407; sim 2: 0386683807. Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Minh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/9/2024.
-
Án phí: bị cáo Lê Thế A và bị cáo Trần Mạnh H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; anh Đinh Minh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
Án xử công khai có mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Tuyên bố bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (12/11/2024); người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA: Nguyễn Minh Toàn |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MINH HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Mạnh Hổ, Lê Thế Anh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
