Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÍ LINH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/DS- ST

Ngày: 30-9-2024

V/v "tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH- TỈNH HẢI DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Linh và ông Nguyễn Văn Thành
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Giao – Thẩm tra viên Tòa án
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 44/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024 về việc "tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản".

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXX-ST ngày 26 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 27/2024/QĐST-DS ngày 12/9/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Đoàn Thị N, sinh năm 1963;
  • HKTT: Thôn Kim Xa, xã Cẩm Lý, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
  • Địa chỉ: Thôn Trại Giữa, xã Cẩm Lý, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963;
  • HKTT: Thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương
  • Chỗ ở hiện nay: KDC B - T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phạm Hồng T1, sinh năm 1960;
  • HKTT: Thôn Kim Xa, xã Cẩm Lý, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
  • Địa chỉ: Thôn Trại Giữa, xã Cẩm Lý, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
  • (Giấy uỷ quyền ngày 06/5/2024)
  • (Bà N, bà T, ông T1 đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 5 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đoàn Thị N trình bày:

Vào khoảng năm 2010 -2012 bà có kinh doanh thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm. Bà Nguyễn Thị T nhà ở thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương có mua thức ăn chăn nuôi gia cầm của bà. Hai bên có thoả thuận giao cám, một bên giao cám và bên nhận có ký kết đầy đủ. Mua bán với nhau được khoảng 3 năm, bà T có trả cho bà được ít nhiều, sau đó vào khoảng 2012-2013, bà không còn khả năng để kinh doanh nữa nên có báo bà T nghỉ kinh doanh không giao cám nữa. Hai bên có chốt số nợ vào ngày 27/11/2012 là 68.496.000 đồng và ngày 03/3/2013 là 8.087.000 đồng, tổng là: 76.583.000đồng. Kể từ sau khi chốt nợ xong, bà T không trả tiền cho bà nữa, bà đã nhiều lần đến đòi nhưng bà T cứ khất lần, khất lượt không chịu trả cho bà.

Nay bà yêu cầu bà T phải có trách nhiệm trả cho bà số tiền nợ là 76.583.000đồng và tiền lãi do bà T không trả tiền bà là 100.560.000đồng. Bà yêu cầu tính lãi cho đến khi bà T trả tiền xong.

Tại buổi hoà giải ngày 23/8/2024, bà T trình bày về việc khi thoả thuận mua bán hai bên có giao kèo với nhau là ông T1, bà N sẽ thu mua lợn, gà cho bà T, đến khi thu hoạch thì vợ chồng bà N ông T1 không đến mua, khi dịch bệnh thì lợn gà chết, nên vợ chồng ông T1 bà N phải có trách nhiệm trả số tiền lợn, gà chết là 100.000.000đ, thì bà N không đồng ý, vì không có thoả thuận như vậy.

Bị đơn chị Nguyễn Thị T trình bày: Bà có chăn nuôi và mua cám của bà Đoàn Thị N, nhưng không nhớ thời gian cụ thể. Khi mua bán hai bên thoả thuận bằng miệng, không lập văn bản, cụ thể vợ chồng ông T1, bà N đầu tư cám để cho bà chăn nuôi, khi nào bán được lợn, gà thì bà sẽ trả tiền cho vợ chồng ông T1, bà N. Bà đã trả tiền cho ông T1, bà N nhiều lần, nhưng không nhớ là trả bao nhiêu, còn nợ bao nhiêu. Toà án có cho bà xem giấy ghi đầu tư cám do bà N cung cấp thì bà không nhớ, không xác định được chữ ký có phải là của bà hay không. Toà án giải thích cho bà về việc bà có quyền yêu cầu giám định chữ ký chữ viết thì bà không yêu cầu, bà xác định đến nay bà vẫn còn nợ tiền cám của vợ chồng bà N, còn chính xác là bao nhiêu thì bà không nhớ. Còn số tiền bà N ghi nợ là 76.583.000đ là do bà N tự ghi. Đối với yêu cầu tính lãi đối với số tiền mà bà chưa trả cho bà N thì khi hai bên thoả thuận mua bán không thoả thuận về việc nếu tôi trả tiền chậm thì phải trả lãi, nên tôi không đồng ý với yêu cầu tính lãi của bà N.

Hiện nay, bà có đến giúp đỡ ông L khi ốm đau được khoảng 03 năm, ông L không phải trả tiền cho bà vì trước đây ông L có giúp đỡ bà những lúc khó khăn. Hiện nay, bà chỉ đủ chỉ tiêu sinh hoạt, không có tiền trả cho bà N, ông T1. Bà còn đang mang bệnh trong người, phải mua thuốc để điều trị, các con bà còn phải cho bà tiền mua thuốc uống.

Giữa bà và bà N, ông T1 có thoả thuận về việc vợ chồng bà N, ông T1 mua lợn, gà của bà, nhưng đến khi gà, lợn được xuất thì vợ chồng bà N, ông T1 không mua, đến khi có dịch bệnh làm chết lợn, gà. Bà yêu cầu vợ chồng bà N phải có trách nhiệm đối với số lợn, gà chết tổng số tiền là 100.000.000đ, nhưng bà chỉ trình bày với toà án, còn bà không làm đơn yêu cầu đối với số tiền này, không nộp tài liệu chứng cứ nào khác, nếu sau này bà thấy cần thiết thì bà sẽ làm đơn yêu cầu sau.

Quá trình bà mua cám của vợ chồng bà N thì chồng của bà là ông Chu Tiến S đã chết năm 2011, chết trước khi mua cám của bà N.

Bà Nguyễn Thị T không làm đơn đề nghị xin miễn án phí vì bà không phải là nguyên đơn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Hồng T1: Ông là chồng của bà Đoàn Thị N. Ông có biết việc bà T mua hàng của gia đình ông. Hiện nay bà T còn nợ vợ chồng ông bà số tiền mua cám là 76.583.000đồng và tiền lãi do bà T không trả tiền là 100.560.000đồng. Ông bà đã nhiều lần đến đòi nhưng không trả. Nay quan điểm của ông bà yêu cầu bà N phải có trách nhiệm trả số tiền nợ trên và phải tiếp tục trả lãi cho đến khi thanh toán xong.

Do ông công việc bận nên uỷ quyền cho vợ ông được thay mặt ông giải quyết công việc tại Toà án.

Tại phiên toà:

Bà N, ông T1, bà T đều vắng mặt tại phiên tòa.

Trước khi mở phiên toà, bà N nộp đơn xin vắng mặt tại phiên toà, đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, 05 bản chính giấy mua bán cám.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, đương sự, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm nghị án chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng theo quy định tại Điều 70,71, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết: Đề nghị HXX:

Căn cứ Điều 280; 357; 430; 440; 468 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 238; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016 /UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị N.

1. Buộc bà Nguyễn Thị T phải có trách nhiệm trả lại cho bà Đoàn Thị N, ông Phạm Hồng T1 số tiền là 76.583.000đ (Bẩy mươi sáu triệu, năm trăm tám mươi ba nghìn) đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người yêu cầu có đơn thi hành án mà bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 357; 468 của Bộ luật dân sự.

- Đình chỉ đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị N1 buộc bà Nguyễn Thị T phải trả số tiền lãi chậm trả tiền là 100.560.000đ (Một trăm triệu, năm trăm sáu mươi nghìn đồng).

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1].Về tố tụng: Bà Đoàn Thị N có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá với bà Nguyễn Thị T. Bà T có đăng kí hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã L, thành phố C, tỉnh Hải Dương, hiện đi ở tại KDC B - T, phường C, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Do vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ông T1 vắng mặt, đã uỷ quyền cho bà N. Bà N vắng mặt có đơn xin vắng mặt. Bà T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, 2 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

[2]. Xét yêu cầu của bà Đoàn Thị N về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị T phải trả số tiền 76.583.000đồng thì thấy: Bà N, bà T cùng xác định hai bên có quan hệ mua bán thức ăn chăn nuôi từ năm 2012 đến năm 2013. Trong quá trình mua bán, hai bên chỉ ghi sổ và bà T có ký sổ ở mỗi lần giao cám, chốt nợ, cũng đã thanh toán tiền cho bà N, ông T1. Ngày 03/3/2013, bà T có ký chốt nợ tiền cám đàn lợn ngày 29/10/2012 là 8.087.000₫ và ngày 27/11/2012, bà T có ký chốt số tiền còn nợ là 68.496.000đ. Kể từ đó, bà T không trả tiền cho bà N, ông T1. Tuy nhiên, đến nay, bà T trình bày về việc bà không nhớ chữ ký trong các giấy chốt nợ có phải là chữ ký của bà hay không, bà không nhớ chính xác số tiền còn nợ là bao nhiêu, nhưng xác định là vẫn còn nợ tiền cám bà N, ông T1, nhưng bà không yêu cầu giám định chữ ký, chữ viết. Theo giấy tờ mà bà N cung cấp, tại mỗi lần giao cám, đều có chữ ký của bà T, phần chốt nợ cũng có chữ ký của bà T, đến nay, bà T không nhớ số nợ là bao nhiêu, xác định vẫn nợ của bà N, do đó, HĐXX đủ căn cứ xác định số nợ của bà T là 76.583.000đồng và số tiền này là tài sản chung của bà N, ông T1 nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N theo quy định tại Điều 280, Điều 430 và Điều 440 của Bộ luật dân sự năm 2015, buộc bà Nguyễn Thị T phải trả lại cho bà Đoàn Thị N, ông Phạm Văn T2 số tiền 76.583.000đồng.

[2]. Trước khi mở phiên toà, bà N có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà Nguyễn Thị T phải trả số tiền lãi chậm trả số tiền 76.583.000đồng là 100.560.000đồng, nên HĐXX đình chỉ đối với yêu cầu này của bà N.

[3] Do yêu cầu buộc bà T phải thanh toán số tiền 76.583.000đ của bà N được chấp nhận, nên kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà bà N có đơn yêu cầu thi hành án, mà bà T có nghĩa vụ không thi hành số tiền nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự.

[4] Bà T trình bày về việc giữa bà T và bà N, ông T2 có thoả thuận về việc bà N, ông T2 có thoả thuận về việc vợ chồng bà N, ông T2 mua lợn, gà của bà, nhưng đến khi gà, lợn được xuất thì vợ chồng bà N, ông T2 không mua, đến khi có dịch bệnh làm chết lợn, gà. Bà yêu cầu vợ chồng bà N phải có trách nhiệm đối với số lợn, gà chết tổng số tiền là 100.000.000đ, nhưng bà chỉ trình bày với toà án, còn bà không làm đơn yêu cầu đối với số tiền này, không nộp tài liệu chứng cứ nào khác, nếu sau này bà thấy cần thiết thì bà sẽ làm đơn yêu cầu sau. Còn bà N xác định, vợ chồng bà chỉ bán cám, không thoả thuận mua lợn, gà, như bà T trình bày. Do bà T yêu cầu bà N, ông T2 phải trả số tiền lợn gà, chết là 100.000.000đ, nhưng bà không làm đơn yêu cầu, không nộp tài liệu chứng cứ nào khác, nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Đối với yêu cầu của bà Đoàn Thị N được chấp nhận thì bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bà T là người cao tuổi, đã được Toà án giải thích về việc bà phải có đơn xin miễn án phí, nhưng bà T trình bày bà không làm đơn xin miễn án phí vì bà không phải là nguyên đơn, nên HĐXX buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 280; 357; 430; 440; 468 của Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 244; Điều 238; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326/2016 /UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị N.

  1. Buộc bà Nguyễn Thị T phải có trách nhiệm trả lại cho bà Đoàn Thị N, ông Phạm Hồng T1 số tiền là 76.583.000đ (Bẩy mươi sáu triệu, năm trăm tám mươi ba nghìn) đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người yêu cầu có đơn thi hành án mà bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 357; 468 của Bộ luật dân sự.

    - Đình chỉ đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị N1 buộc bà Nguyễn Thị T phải trả số tiền lãi chậm trả tiền là 100.560.000đ (Một trăm triệu, năm trăm sáu mươi nghìn đồng).

  2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 3.829.150đ (Ba triệu, tám trăm hai mươi chín nghìn, một trăm năm mươi) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Bà N1, ông T1, bà T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thành phố Chí Linh;
  • - Chi cục THADS thành phố Chí Linh;
  • - Lưu hồ sơ, Tòa án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(ĐÃ KÝ)

Vũ Thị Luyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/DS- ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 41/2024/DS- ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng mua bán hàng hoá
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger