|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST Ngày 30-9-2024. (Về việc: Tranh chấp ly hôn và nuôi con) |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đà Giang
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan
- Bà Phạm Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thái Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà: ông Đặng Quốc Toản - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 199/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/9/2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trịnh Thu H, sinh năm 1987
- Nơi cư trú: Số nhà B ngõ B đường Đ, tổ E, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình – vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt);
- - Bị đơn: Anh Hà Mạnh C, sinh năm 1985
- Nơi cư trú: Số nhà B ngõ B đường Đ, tổ E, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình – vắng mặt (không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện ngày 28/6/2024 và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, nguyên đơn là chị Trịnh Thu H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thu H và và anh Hà Mạnh C đã tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, đăng ký kết hôn ngày 16 tháng 7 năm 2010. Quá trình chung sống vợ chồng mâu thuẫn từ đầu tháng 01 năm 2023. Nguyên nhân mâu thuẫn do chồng chị không tu chí làm ăn, không chu cấp nuôi con, hay mắng chửi vợ con, thường xuyên rượu chè không làm chủ được bản thân. Đến nay chị H không còn tình cảm và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Hà Mạnh C.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có 03 con chung là Hà Nam G, sinh ngày 19/10/2010, Hà Gia B, sinh ngày 17/01/2014 và Hà Gia C1, sinh ngày 09/01/2019. Ly hôn chị H có nguyện vọng nuôi cả ba con, nếu như anh C nhận nuôi đứa nào thì chị hoàn toàn đồng ý cho anh được nuôi một đến hai con. Nếu chị được nuôi cả ba con chị cũng chưa yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con vì thực tế khi chung sống anh C không đưa tiền cho chị H nuôi con nên chị không trông chờ hy vọng gì. Đến thời điểm Tòa án xét xử nếu anh C không đến Tòa án thì chị đề nghị giao cả 03 (ba) con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng.
Công việc hiện tại của chị H là kinh doanh online tự do, thu nhập trung bình một tháng từ 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng đến 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng hoàn toàn đảm bảo để nuôi ba con. Anh Hà Mạnh C từ khi đăng ký kết hôn cho đến nay chỉ sống phụ thuộc vào tiền mẹ chồng chị đi nước ngoài gửi về cho riêng một mình anh C chi tiêu cá nhân, nên anh C lười biếng không tu chí làm ăn, không chu cấp tiền hay vật chất gì cho chị H nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng chị H, anh C không có tài sản chung, chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Vợ chồng chị không vay nợ chung của tổ chức, cá nhân nào do vậy chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị H tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Bị đơn anh Hà Mạnh C:
Anh Hà Mạnh C đã được Tòa án triệu tập, giao văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình. Do đó, Tòa án không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa để anh C biết nhưng anh vẫn vắng mặt tại phiên tòa tất cả các lần mà không có lý do.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh Hà Mạnh C cư trú. Kết quả xác minh cho thấy: Anh Hà Mạnh C có đăng ký thường trú tại tổ E, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình và vẫn sinh sống tại tổ E, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
Tòa án đã tiến hành xác minh đại diện Khu dân cư T phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, cho biết chị Trịnh Thu H và anh Hà Mạnh C đã đăng ký kết hôn hợp pháp. Từ sau khi kết hôn, chị H và anh C chung sống với nhau tại tổ E, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Chị H và anh C có với nhau ba người con là Hà Gia B, sinh năm 2014, Hà Nam G sinh năm 2010, Hà Gia C1 sinh năm 2019. Tổ trưởng Tổ dân P không biết cụ thể anh C và chị H mâu thuẫn với nhau vì lý do gì nhưng được biết anh C và chị H đã mâu thuẫn và ly thân không sống với nhau từ khoảng ba tháng nay (thời điểm xác minh ngày 10/7/2024). Đại diện Tổ dân P cũng đã cố gắng hòa giải hai vợ chồng anh chị H, C nhưng anh C cũng không hợp tác, không muốn hòa giải. Các giấy tờ Tòa án giao cho anh C cũng không gặp được anh C để giao. Nên Tòa án đã phối hợp đại diện khu dân cư niêm yết văn bản theo quy định.
Tòa án tiến hành lấy lời khai của 02 con Hà Gia B và Hà Nam G, cả 02 con đều có nguyện vọng được ở với mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân phố Hòa Bình phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:
- - Về tố tụng : Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của BLTTDS. Phiên tòa xét xử vắng mặt nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn dù đã được tống đạt hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt theo quy định tại Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung:
- Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thu H; xử cho chị Trịnh Thu H được ly hôn anh Hà Mạnh C.
- Về con chung: Giao 03 con chung là Hà Nam G, sinh ngày 19/10/2010, Hà Gia B, sinh ngày 17/01/2014 và Hà Gia C1, sinh ngày 09/01/2019 cho chị Trịnh Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con 18 tuổi hoặc có quyết định khác theo quy định của pháp luật là hoàn toàn phù hợp, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận. Chị Trịnh Thu H chưa yêu cầu anh Hà Mạnh C cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Hà Mạnh C.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị H khai không có, không đề nghị giải quyết, nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
- Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 buộc chị Trịnh Thu H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố H, tỉnh Hòa Bình nên Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng. Việc giải quyết, xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng đã bảo đảm các quy định tại Điều 207, Điều 208, Điều 209, Điều 210; Điều 227, 228, 238, 254 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng là các giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo về kết quả phiên họp; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa đã bảo đảm đúng các quy định tại Điều 173, 177, 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự về cấp, tống đạt, niêm yết công khai văn bản tố tụng.
Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử là cần thiết và đúng quy định của pháp luật. Ngoài ra, hiệc tiệc phiên tòa lần thứ nhất cũng đã bảo đảm quy định tại Điều 233 của Bộ luật Tố Tụng dân sự và bảo đảm quyền được tham gia tố tụng của bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Trịnh Thu H và anh Hà Mạnh C khi kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, đăng ký kết hôn vào ngày 16 tháng 7 năm 2010 trên cơ sở tự nguyện. Do vậy hôn nhân giữa chị Trịnh Thu H và và anh Hà Mạnh C được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống có hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do mâu thuẫn về kinh tế gia đình và bất đồng về quan điểm sống, lối sống, vi phạm nghĩa vụ vợ chồng và nghĩa vụ đối với con chung. Thực tế vợ chồng đã ly thân kéo dài nhiều tháng, anh C không đến Tòa án để tham gia hòa giải cho thấy vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân một thời gian, mỗi người một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã nhiều lần đến nhà giao văn bản và để gặp anh Hà Mạnh C về việc chị H yêu cầu ly hôn, Toà án yêu cầu anh C đến Tòa án để giải quyết ly hôn nhưng anh C thường xuyên không có mặt ở nhà, liên hệ thì anh C cố tình trốn tránh, vắng mặt không có lý do, không hợp tác, do vậy chị H phải đề nghị giải quyết ly hôn đơn phương theo quy định của pháp luật.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Trịnh Thu H và anh Hà Mạnh C đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại. Mặt khác, anh C biết việc chị H nộp đơn xin ly hôn nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, không đến Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ án để thể hiện ý kiến của mình, điều này chứng tỏ anh C cũng không mong muốn được hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trịnh Thu H đối với anh Hà Mạnh C là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về con chung:
Chị Trịnh Thu H và anh Hà Mạnh C có 03 (ba) con chung là Hà Nam G, sinh ngày 19/10/2010, Hà Gia B, sinh ngày 17/01/2014 và Hà Gia C1, sinh ngày 09/01/2019. Chị Trịnh Thu H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cả 03 con chung và chưa yêu cầu anh Hà Mạnh C cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy 02 con Hà Gia B và Hà Nam G đều có nguyện vọng được ở với mẹ, Hà Gia C1, sinh ngày 09/01/2019 còn nhỏ, cũng rất cần sự chăm sóc và gần gũi của người mẹ, hiện cả 03 con vẫn đang ở với mẹ. Chị Trịnh Thu H có công việc kinh doanh online, lương đảm bảo từ khoảng 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng đến 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng và chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi các con. Nhằm đảm bảo quyền lợi cũng như ổn định cuộc sống của con, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị Trịnh Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 (ba) con chung là Hà Nam G, sinh ngày 19/10/2010, Hà Gia B, sinh ngày 17/01/2014 và Hà Gia C1, sinh ngày 09/01/2019 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của Tòa án là đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các đương sự.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trịnh Thu H có việc làm và thu nhập ổn định đảm bảo nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con và chưa yêu cầu cấp dưỡng. Nên Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Hà Mạnh C.
[4] Về tài sản chung:
Chị Trịnh Thu H khai không có tài sản chung và không yêu cầu giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về công nợ chung:
Chị Trịnh Thu H khai không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí:
Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điểm a, b khoản 2 Điều 227, 228, 238, 254; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trịnh Thu H về việc xin ly hôn với anh Hà Mạnh C.
Chị Trịnh Thu H được ly hôn với anh Hà Mạnh C.
2. Về con chung:
Giao 03 (ba) con chung là Hà Nam G, sinh ngày 19/10/2010, Hà Gia B, sinh ngày 17/01/2014 và Hà Gia C1, sinh ngày 09/01/2019 cho chị Trịnh Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác theo quy định của pháp luật.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trịnh Thu H chưa yêu cầu anh Hà Mạnh C cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Hà Mạnh C.
Anh Hà Mạnh C được quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí:
Chị Trịnh Thu H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000462 ngày 05/7/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình chuyển thành án phí cho chị Trịnh Thu H.
4. Về quyền kháng cáo:
Chị Trịnh Thu H và anh Hà Mạnh C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Đà Giang |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, vợ nuôi 3 con
