Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ LÁCH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày: 26/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH - TỈNH BẾN TRE

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Chí Cường.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Kim Ngân.
  2. Ông Đoàn Kim Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thanh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 36/2024/TLST - HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Bảo X (Tên gọi khác: Không có tên gọi khác), sinh ngày 01/01/1992 tại tỉnh Trà Vinh; Nơi cư trú: ấp H, xã N, huyện C, tỉnhTrà Vinh; Nơi ở hiện nay (Tạm trú): ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Mua phế liệu; Trình độ học vấn: Lớp 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị H; Bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình có năm anh chị em: Bị cáo có chồng tên Phan Vũ L và có 02 người con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+Dương Thị N, sinh năm 1967.

Địa chỉ: ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Nguyễn Văn C, sinh năm 1988.

Địa chỉ: ấp T, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Bảo X làm nghề mua bán phế liệu và thuê phòng trọ số 17 tại nhà trọ G thuộc ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre để sinh sống. Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 03 tháng 6 năm 2024, khi nhìn thấy bà Dương Thị N, sinh năm 1967, ở phòng trọ số 18 cùng dãy nhà trọ và cũng làm nghề mua bán phế liệu vừa đi ra khỏi phòng trọ, do thiếu nợ tiền không có khả năng trả nên X nảy sinh ý định đột nhập vào phòng trọ của bà N để lấy trộm tài sản. Xuyên liền lấy một cái búa (loại búa đốn gỗ) tại phòng trọ của mình cầm đi ra phía sau phòng trọ số 18 của bà N, dùng búa đập vỡ kính cửa ra vào rồi đưa tay vào bên trong mở chốt gài cửa và đi vào bên trong. Quan sát thấy ở vị trí bà N ngủ, có một cái gối nằm có vật nhô lên nên đến mở gối, nhìn thấy bên trong có một túi nylon màu đen có chứa tiền, X lấy hết số tiền là 19.000.000 đ (mười chín triệu đồng), sau đó đóng cửa và gài chốt lại, cầm tiền trộm được và cái búa đi về phòng trọ của mình. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, sau khi bà N đi mua ve chai về thì phát hiện số tiền của mình bị mất trộm nên đến trình báo Công an xã L toàn bộ vụ việc. Qua xác minh, Công an xã đã mời X đến trụ sở làm việc. Tại cơ quan Công an X đã thừa nhận hành vi lấy trộm tiền của bà N và đã sử dụng hết số tiền 9.000.000đồng còn lại 10.000.000đồng đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Công an.

Vật chứng thu giữ:

  • Số tiền 10.000.000đồng;
  • Một cái búa dài 38,5cm, cán bằng gỗ, lưỡi búa bằng kim loại, hình thang, kích thước: Chiều dài 9,4cm; chiều rộng phần lưỡi 5,6cm; chiều rộng phần đầu 3,7cm; độ dày phần đầu 03cm.

Cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Trần Bảo X về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Bảo X và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Bảo X từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng đến 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy một cái búa dài 38,5cm, cán bằng gỗ, lưỡi búa bằng kim loại, hình thang, kích thước: Chiều dài 9,4cm; chiều rộng phần lưỡi 5,6cm; chiều rộng phần đầu 3,7cm; độ dày phần đầu 03cm do không còn giá trị sử dụng và bị cáo không yêu cầu nhận lại.

Về trách nhiệm dân sự:

2

Ghi nhận bị hại Dương Thị N đã nhận lại số tiền 10.000.000đồng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C trao trả và được bị cáo bồi thường số tiền 9.000.000đồng nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Ghi nhận đối với tấm cửa kính của phòng trọ mà bị cáo đã đập vỡ, anh Nguyễn Văn C là chủ nhà trọ G không có yêu cầu bồi thường.

Tại tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố đồng thời có lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có mặt không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai cụ thể, rõ ràng tại cơ quan điều tra và việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 292 và 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: Căn cứ lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời trình bày của bị hại về thời gian, địa điểm xảy ra vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

Xuất phát từ động cơ vụ lợi, mục đích chiếm đoạt tiền của người khác để tiêu xài, trả nợ cá nhân nên vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 03 tháng 6 năm 2024, tại ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Bến Tre, Trần Bảo X đã đột nhập vào nơi ở bị hai thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt của bị hại Dương Thị N số tiền 19.000.000đồng.

[3] Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ, biết hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi vi phạm, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân nên bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành, số tiền bị cáo chiếm đoạt là 19.000.000đồng vì vậy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, việc truy tố và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre tại phiên tòa là có căn cứ và đúng người, đúng tội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng trách nhiệm hình sự; bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là tự nguyện bồi thường thiệt hại, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đang nuôi con còn nhỏ; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

3

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù ít nghiêm trọng nhưng gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo thực hiện tội phạm, gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân. gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn bị cáo thực hiện tội phạm, gây tâm lý hoang moang, bất an trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên với nguyên nhân, tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt, bị cáo đang nuôi con còn nhỏ và có nơi cư trú rõ ràng và đồng thời cũng thể hiện tính nhân văn của pháp luật, căn cứ vào hướng dẫn Nghị quyết số 02/2018/NQ - HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ - HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về án treo không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và đồng thời cũng có tác dụng phòng ngừa tội phạm.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.

Đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về xử lý vật chứng: Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải có nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Bảo X phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Bảo X 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/9/2024.

Giao bị cáo Trần Bảo X cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện C, tỉnhTrà Vinh kết hợp cùng gia đình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp trong thời gian thử thách mà bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thihành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Về xử lý vật chứng.

4

Tịch thu tiêu hủy một cái búa dài 38,5cm, cán bằng gỗ, lưỡi búa bằng kim loại, hình thang, kích thước: Chiều dài 9,4cm; chiều rộng phần lưỡi 5,6cm; chiều rộng phần đầu 3,7cm; độ dày phần đầu 03cm.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre).

3.Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận bị hại Dương Thị N đã nhận lại số tiền 10.000.000đồng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C trao trả và được bị cáo bồi thường số tiền 9.000.000đồng nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Ghi nhận đối với tấm cửa kính của phòng trọ mà bị cáo đã đập vỡ, anh Nguyễn Văn C là chủ nhà trọ G không có yêu cầu bồi thường.

4. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Trần Bảo X phải có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000đồng.

5. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - STP tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (1b);
  • - Chi cục THADS Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (1b);
  • - Công an huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (3b);
  • - Bộ phận HS CA Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (2b);
  • - UBND xã Long Thới, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre (1b)
  • - UBND xã Nhị Long Phú, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh (1b);
  • - Những người tham gia tố tụng (3b);
  • - Lưu: HS vụ án, Văn phòng (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đào Chí Cường

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH - TỈNH BẾN TRE về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ LÁCH - TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Bảo X
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger