TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 9 - 2024
“V/v Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Phúc Định.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đàm Chí Thân và bà Vũ Thị Thanh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thành Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2024/TLST-HNGĐ ngày 09/5/2024 về việc: “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16/9/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1988. Nơi thường trú: khu Đ, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh - Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Vũ Thị M, sinh năm 1992. Nơi thường trú: khu Đ, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: thôn D, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh - Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – anh Nguyễn Xuân Q trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Xuân Q với chị Vũ Thị M tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2011, sau đó ngày 27 tháng 10 năm 2015 tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn cả hai chung sống tại khu Đ, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến khoảng tháng 6 năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể tiếp tục chung sống hòa hợp. Đến năm 2021 anh Q với chị M sống ly thân chị M đã về ở nhà bố mẹ đẻ tại thôn D, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Nay anh Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên anh Q đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với chị M.
- Về con chung: Anh Nguyễn Xuân Q với chị Vũ Thị M có 02 (Hai) người con chung là: Nguyễn Vũ Anh P, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2012 và Nguyễn Vũ Anh T, sinh ngày 26 tháng 8 năm 2016. Khi ly hôn, anh Q đề nghị Tòa án giao cho anh Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); không yêu cầu chị Vũ Thị M phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Xuân Q và chị Vũ Thị M không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập, thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án như Thông báo thụ lý, giấy triệu tập, Thông báo công khai chứng cứ và hòa giải, theo quy định của pháp luật cho chị Vũ Thị M, tuy nhiên chị Vũ Thị M không có mặt tại các phiên họp và các buổi làm việc vắng mặt không có lý do; ông Vũ Văn T1 – bố đẻ chị M nhận và thông báo lại cho chị M, chị M có nói với ông T1 là chị M đang đi làm nên không thể có mặt theo thông báo của Tòa án và đề nghị Tòa án cứ giải quyết theo nội dung anh Q khởi kiện.
Quá trình xác minh tại khu Đ, phường C ngày 21 tháng 6 năm 2024, chính quyền địa phương cho biết: Anh Nguyễn Xuân Q và chị Vũ Thị M đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh ngày 27 tháng 10 năm 2015. Sau khi kết hôn cả hai chung sống tại khu Đ, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Quá trình chung sống cả hai không yêu cầu khu hòa giải mâu thuẫn, khu chỉ được biết vợ chồng xảy ra bất đồng quan điểm sống và đến nay không còn chung sống cùng nhau. Nay anh Q yêu cầu giải quyết ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Anh Nguyễn Xuân Q và chị Vũ Thị M có 02 (Hai) con chung là: Nguyễn Vũ Anh P, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2012 và Nguyễn Vũ Anh T, sinh ngày 26 tháng 8 năm 2016. Trường hợp cả hai ly hôn đề nghị Tòa án xem xét điều kiện của hai bên để giải quyết giao nuôi con cho phù hợp. Về tài sản chung và vay nợ chung khu không nắm được.
Tại đơn trình bày ngày 22 tháng 8 năm 2024 của ông Vũ Văn T1 – bố đẻ chị M (địa chỉ: thôn D, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh), cho biết: Anh Q với chị M là con rể và con gái ông. Cả hai kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh ngày 27 tháng 10 năm 2015. Sau khi kết hôn cả hai chung sống tại nhà bố mẹ anh Q tại khu Đ, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi chị M và anh Q xảy ra mâu thuẫn thì chị M đã về ở với gia đình ông T1 tại thôn D, xã T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Do chị M đi làm nên khi Tòa án chuyển các giấy triệu tập, Thông báo thụ lý, đơn khởi kiện, thông báo thu thập tài liệu, Thông báo công khai chứng cứ và hòa giải, thì ông T1 nhận thay chị M và thông báo và chuyển lại cho chị M, chị M có nói là đang đi làm nên không thể có mặt theo thời gian thông báo của Tòa án và có nói là Tòa án giải quyết theo nội dung anh Q yêu cầu. Anh Q và chị M có 02 con chung là Nguyễn Vũ Anh P, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2012 và Nguyễn Vũ Anh T, sinh ngày 26 tháng 8 năm 2016, hiện các cháu đang ở với bố.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Xuân Q. Xử: Anh Nguyễn Xuân Q được ly hôn chị Vũ Thị M; về con chung: giao cho anh Nguyễn Xuân Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng các cháu Nguyễn Vũ Anh P, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2012 và Nguyễn Vũ Anh T, sinh ngày 26 tháng 8 năm 2016 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); chị Vũ Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung và vay nợ chung: các đương sự không yêu cầu giải quyết; về án phí: nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Nguyễn Xuân Q khởi kiện về việc ly hôn với chị Vũ Thị M và cung cấp các tài liệu làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án. Bị đơn chị Vũ Thị M có nơi thường trú tại khu Đ, phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Xuân Q vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xử vắng mặt); bị đơn chị Vũ Thị M vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có ý do. Do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn đảm bảo đúng quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Xuân Q và chị Vũ Thị M có đăng ký kết hôn từ năm 2015 cho đến nay là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Hội đồng xét xử xét thấy để cuộc sống vợ chồng hôn nhân tồn tại, mục đích hôn nhân đạt được thì phải xuất phát từ ý chí, nguyện vọng của hai bên vợ chồng, tình cảm phải trên cơ sở tự nguyện từ hai phía, phải thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống anh Nguyễn Xuân Q và chị Vũ Thị M phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân, trong quá trình sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc nhau; chị Vũ Thị M có quan điểm đồng ý ly hôn với anh Nguyễn Xuân Q. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa anh Nguyễn Xuân Q và chị Vũ Thị M đã trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử ghi nhận về quan điểm ly hôn giữa anh Nguyễn Xuân Q và chị Vũ Thị M, chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Xuân Q đối với chị Vũ Thị M là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Anh Nguyễn Xuân Q và chị Vũ Thị M có 02 (Hai) người con chung là: Nguyễn Vũ Anh P, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2012 và Nguyễn Vũ Anh T, sinh ngày 26 tháng 8 năm 2016. Anh Nguyễn Xuân Q có quan điểm trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng các con chung, không yêu cầu chị Vũ Thị M phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy, con chung là Nguyễn Vũ Anh P, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2012 và Nguyễn Vũ Anh T, sinh ngày 26 tháng 8 năm 2016 đang còn nhỏ ở với anh Nguyễn Xuân Q từ bé và từ khi vợ chồng ly thân đến nay anh Nguyễn Xuân Q vẫn đang nuôi dưỡng và chăm sóc; chị M có quan điểm đồng ý để anh Nguyễn Xuân Q nuôi các con chung, nên Hội đồng xét xử ghi nhận quan điểm về việc nuôi dưỡng con chung của anh Nguyễn Xuân Q và chị Vũ Thị M; giao các con chung là Nguyễn Vũ Anh P, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2012 và Nguyễn Vũ Anh T, sinh ngày 26 tháng 8 năm 2016, cho anh Nguyễn Xuân Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); chị Vũ Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung, là phù hợp với Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết chị Vũ Thị M có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung và vay nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí: Anh Nguyễn Xuân Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 266; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Xuân Q.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Xuân Q được ly hôn chị Vũ Thị M.
- Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Xuân Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng các con chung Nguyễn Vũ Anh P, sinh ngày 27 tháng 12 năm 2012 và Nguyễn Vũ Anh T, sinh ngày 26 tháng 8 năm 2016 đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); chị Vũ Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau ly hôn, chị Vũ Thị M không trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đồng thời không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về án phí: Anh Nguyễn Xuân Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm anh Nguyễn Xuân Q đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003871 ngày 07/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, anh Nguyễn Xuân Q đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm ngày) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Phúc Định |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Xuân Quảng được ly hôn chị Vũ Thị Mơ
