Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SÔNG CẦU

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 41/2024/HSST

Ngày: 13/9/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU - PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lò Nhật Chuyên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Gắng - Ông Nguyễn Ngọc Chẩn

Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu

Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên toà: Ông Phan Văn Thanh - Kiểm sát viên.

Vào ngày 09, 13 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QÐST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 17/2024/QÐST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 21/2024/QÐST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 25/2024/QĐST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/. Nguyễn Tấn Q (Tên gọi khác: Quanh L), sinh ngày 02 tháng 8 năm 1970 tại Sông C, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam. HKTT: KP . L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Hiện ở: KP . V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Số CCCD: [...] cấp ngày 12/01/2023; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH; Trình độ học vấn: 03/12; Con ông Nguyễn Văn V (chết) và bà Trịnh Thị S (chết); Vợ tên Võ Thị Hồng H, sinh năm 1985; Con: 06 người, lớn nhất sinh năm 1996 và nhỏ nhất sinh năm 2023; Tiền án: không,

Tiền sự: Ngày 03/8/2023, bị Công an thị xã S xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng về hành vi Gây rối hoặc cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức. Đã chấp hành nộp phạt ngày 05/12/2023.

Nhân thân: Ngày 12/06/2000, bị Tòa án nhân dân Tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 08 năm tù về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 101 Bộ luật hình sự năm

1

1985 (Theo Bản án số 346/HS-PT ngày 12/06/2000), chấp hành xong vào ngày 01/02/2005.

Bị cáo Nguyễn Tấn Q bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã S từ ngày 07/11/2023 đến ngày 31/01/2024 hủy bỏ biện pháp tạm giam.

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

2/. Võ Thị Hồng H (Tên gọi khác: không có), sinh ngày 20 tháng 02 năm 1985 tại Sông C, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nữ. Nơi cư trú: KP . V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: buôn bán; Số CCCD: [...] cấp ngày 20/4/2018; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Võ Ngọc T, sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1959; Chồng tên Nguyễn Tấn Q, sinh năm 1970; Con: 02 người, sinh năm 2005 và sinh năm 2023; Tiền án, Tiền sự: không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tấn Q: Ông Trịnh Bình T1 – Luật sư, Văn phòng L8. Địa chỉ: G N, phường E, thành phố T, tỉnh Phú Yên; thuộc Đoàn luật sư tỉnh P. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Võ Thị R, sinh năm 1978. Vắng mặt
  2. Trịnh Thị L2, sinh năm 1979. Vắng mặt
  3. Đinh Công P, sinh năm 1979. Vắng mặt
  4. Lê Thị Kim D, sinh năm 1971. Vắng mặt
  5. Nguyễn Thị Xuân Đ, sinh năm 1986. Vắng mặt
  6. Ngô Văn L3, sinh năm 1970. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
  7. Nguyễn Văn E, sinh năm 1970. Vắng mặt
  8. Nguyễn Phi H1, sinh năm 1971. Vắng mặt
  9. Nguyễn Thị L4, sinh năm 1955. Vắng mặt
  10. Đỗ Văn B, sinh năm 1953. Vắng mặt

Cùng địa chỉ: K. V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên.

  1. Nguyễn Thị H2, sinh năm 1976.Vắng mặt
  2. Nguyễn Thị Hồng T2, sinh năm 1996. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
  3. Dương Văn P1, sinh năm 1990. Vắng mặt
  4. Phạm Châu T3, sinh năm 1975. Vắng mặt

2

Cùng địa chỉ: K. Dân Phước, phường Xuân Thành, thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên

  1. Trần Thị Ú, sinh năm 1957. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
  2. Trịnh B1, sinh năm 1939. Vắng mặt
  3. Nguyễn Văn T4, sinh năm 1986. Vắng mặt

Cùng địa chỉ: K. L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên.

  1. Huỳnh Thị T5, sinh năm 1986. Địa chỉ:Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
  2. Lê Thị P2, sinh năm 1992. Địa chỉ: Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
  3. V/c Ngô Minh H3, sinh năm 1973 và Đặng Thị T6, sinh năm 1981. Địa chỉ: Khu phố T, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
  4. Võ Hữu T7, sinh năm1971. Địa chỉ: Thôn H, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
  5. Trần Đăng M, sinh năm 1978. Trú tại: Thôn Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh. Hiện ở: Thôn B, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt
  6. Trần Thị M1, sinh năm 1969. Trú tại: L, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hiện ở: KP. V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
  7. Nguyễn Thị Kim Y, sinh năm 1990. Trú tại: L, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hiện ở: KP. V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
  8. Huỳnh Xuân N, sinh năm 1988. Trú tại: L, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hiện ở: KP. V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
  9. Nguyễn Thanh H4, sinh năm 1997. Trú tại: L, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Hiện ở: KP. V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
  10. Nguyễn Thị L5, sinh năm 1995. Trú tại: Thôn B, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Hiện ở: KP. V, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
  11. Nguyễn Minh B2, sinh năm 1990. Trú tại: KP. Chánh Bắc, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
  12. Nguyễn Thanh Đ1, sinh năm 1988. Địa chỉ: E T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

3

Từ năm 2019, ông Nguyễn Tấn Q và bà Võ Thị Hồng H sống với nhau như vợ chồng không có đăng ký kết hôn (mới đăng ký kết hôn ngày 05/02/2024), khoảng từ tháng 12 năm 2021 ông Nguyễn Tấn Q có vay tiền của bà Trần Thị Ú số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất 02%/tháng và vay của ông Trịnh B1 số tiền 200.000.000 đồng (ông B1 không tính lãi) việc ông Q vay, mượn tiền rồi ông Q cho những người dân trên địa bàn thị xã S vay lại với lãi suất cao để thu lợi bất chính, bà H đều biết. Những người có nhu cầu vay tiền đến nhà ông Q, bà H gặp trực tiếp Q hoặc H để vay tiền, sau khi Q, H thống nhất mức lãi suất từ 10% đến 15%/tháng (từ 121,67% đến 182,5%/năm) với những người vay thì làm giấy vay. Hàng tháng khi đến ngày trả tiền lãi, người vay sẽ trực tiếp đem tiền đến nhà gặp ông Q hoặc bà H để trả tiền. Ông Q, bà H ghi vào sổ những lần người vay trả tiền lãi để theo dõi, cả hai sử dụng số tiền này để chi tiêu, sinh hoạt chung trong gia đình.

Quá trình điều tra xác định: Từ tháng 12 năm 2021 đến tháng 11 năm 2023, ông Nguyễn Tấn Q, bà Võ Thị Hồng H đã cho 17 người vay tổng số tiền 750.000.000 đồng với lãi suất từ 10% đến 15%/tháng (từ 121,67% đến 182,5%/năm) thu lợi bất chính số tiền là 385.126.667 đồng cụ thể:

  1. Cho bà Võ Thị R (lần 1 ngày 10/02/2022 dương lịch cho vay số tiền 20.000.000 đồng; lần 2 ngày 07/11/2023 dương lịch cho vay số tiền 20.000.000 đồng) cho vay 02 lần với tổng số tiền 40.000.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 77.488.000 đồng, bà R chưa trả nợ gốc.
  2. Ngày 29/9/2022 (dương lịch) cho bà Huỳnh Thị T5 vay số tiền 10.000.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 1.336.000 đồng, bà T5 đã trả hết nợ gốc.
  3. Ngày 04/11/2022 (dương lịch) cho bà Lê Thị Kim D vay 10.000.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 17.368.000 đồng, bà D chưa trả tiền nợ gốc.
  4. Tháng 12/2021 (dương lịch) cho bà Trần Thị M1 vay 5.000.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 12.024.000 đồng, bà M1 đã trả được số tiền 2.000.000 đồng nợ gốc, còn nợ lại số tiền gốc là 3.000.000 đồng.
  5. Ngày 04/12/2022 (âm lịch) cho bà Nguyễn Thị Kim Y vay 10.000.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 6.680.000 đồng, bà Y đã trả hết số tiền nợ gốc.
  6. Cho ông Huỳnh Xuân N vay 02 lần 15.000.000 đồng (ngày 29/4/2024 âm lịch cho vay số tiền 10.000.000 đồng, ngày 19/9/2022 âm lịch cho vay số tiền 5.000.000 đồng) số tiền lãi thu lợi bất chính là 22.712.000 đồng, ông N đã trả được số tiền nợ gốc là 7.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền gốc là 8.000.000 đồng.
  7. Ngày 04/02/2023 (âm lịch) cho ông Nguyễn Thanh H4 vay 5.000.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 1.336.000 đồng, ông H4 đã trả hết nợ gốc.

4

  1. Ngày 30/12/2022 (âm lịch) cho bà Nguyễn Thị L5 vay 10.000.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 6.680.000 đồng, bà Nguyễn Thị L5 đã trả hết nợ gốc.
  2. Ngày 06/5/2023 (dương lịch) cho bà Trịnh Thị L2 vay 30.000.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 4.453.333 đồng, bà L2 đã trả hết số tiền nợ gốc.
  3. Cho ông Nguyễn Phi H1 vay 02 lần với số tiền 20.000.000 đồng (lần 1 ngày 08/3/2023 (âm lịch) cho vay số tiền 15.000.000 đồng, lần 2 ngày 06/9/2023 (âm lịch) cho vay số tiền 5.000.000 đồng) số tiền lãi thu lợi bất chính là 4.676.000 đồng, ông H1 đã trả hết nợ gốc.
  4. Ngày 28/4/2023 (dương lịch) cho bà Nguyễn Thị H2 vay 15.000.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 10.020.000 đồng, bà H2 đã trả được số tiền nợ gốc là 10.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền gốc là 5.000.000 đồng.
  5. Ngày 21/02/2023 (âm lịch) cho ông Nguyễn Văn T4 vay 10.000.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 2.994.667 đồng, ông T4 đã trả hết nợ gốc.
  6. Tháng 06/2023 (âm lịch) cho bà Nguyễn Thị Xuân Đ vay 20.000.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 5.344.000 đồng, bà Nguyễn Thị Xuân Đ đã trả hết nợ gốc.
  7. Từ tháng 02/2023 đến tháng 09/2023 (âm lịch) cho ông Võ Hữu T7 vay 02 lần với tổng số tiền vay là 200.000.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 126.960.000 đồng, ông T7 chưa trả tiền vay gốc.
  8. Ngày 11/10/2022 (âm lịch) cho ông Trần Đăng M vay 300.000.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 80.160.000 đồng, ông M đã trả hết nợ gốc.
  9. Ngày 20/9/2023 (âm lịch) cho ông Ngô Văn L3 vay 30.000.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 2.508.000 đồng, ông L3 đã trả hết nợ gốc.
  10. Ngày 07/8/2023 (âm lịch) cho ông Phạm Châu T3 vay 20.000.000 đồng, số tiền lãi thu lợi bất chính là 2.786 667 đồng, ông T3 chưa trả số tiền vay gốc.

Ngoài ra, vợ chồng Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H cho 08 người vay gồm: Dương Văn P1, Nguyễn Văn E, Đinh Công P, Nguyễn Thị L4, Lê Thị P2, Nguyễn Thanh Đ1, Ngô Minh H3, Nguyễn Hữu L6 với lãi suất từ 05% đến 8%/tháng (từ 60,83% đến 97,33%/năm).

- Bà Võ Thị Hồng H còn sử dụng số tiền riêng của H 10.000.000 đồng cho bà Võ Thị R vay với lãi suất 15%/tháng (182,5%/năm) thu lợi bất chính số tiền 5.344.000 đồng, bà R chưa trả tiền vay gốc.

Vật chứng vụ án:

  • Số tiền 116.450.000 đồng tạm giữ của Nguyễn Tấn Q; Số tiền 3.000.000 đồng của bà Võ Thị R trả lãi cho Nguyễn Tấn Q. Cơ quan CSĐT đang tạm giữ.

5

  • 01 vòng kim loại màu bạc loại vòng đeo tay; 01 (một) vòng kim loại màu vàng có chữ CHANEL; 01 vòng đeo tay kim loại màu vàng phần mặt hai bán cầu có đính đá; 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng hình con công có đính đá; 01 vòng đeo tay nhiều viên hình cầu tròn sâu vào thành chuỗi băng kim loại màu vàng; 01 vòng kim loại được sâu thành chuỗi bởi nhiều viên hình cầu màu vàng đoạn nối có dây thòng hình kim tiền loại vòng đeo cổ. Cơ quan CSĐT đang tạm giữ.
  • 03 hộp mực lăn tay gồm: 01 hộp lăn tay mực đỏ hiệu “Rorse”, vỏ kim loại; 01 hộp lăn tay vỏ nhựa, màu trắng – xám, mực đỏ hiệu “Phing SP-3”; 01 hộp lăn tay vỏ nhựa, màu đen, mực đỏ hiệu “Tordat”. Cơ quan CSĐT đang tạm giữ.
  • 01 bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp tên Lê Thị P2; 01 bằng trung học phổ thông tên Nguyễn Minh B2. Cơ quan CSĐT đang tạm giữ.
  • 03 quyển sổ ghi chép việc vay, mượn tiền gồm: 01 cuốn sổ, bìa màu xanh, trên bài có chữ “Hand book Tân Vĩnh T8”, bên trong giấy kẻ ô ca rô được đánh số thứ tự từ 01 đến 57, đối với các trang giấy có ghi chữ và số, ghi ngày 01/2023 và có chữ ký xác nhận của bị can Nguyễn Tấn Q; 01 sổ ghi chép bìa màu đỏ có chữ “Hand book T”, bên trong sổ có các tờ giấy ghi các nội dung chữ và số được đánh số ký hiệu từ 01 đến 11, tất cả ghi ngày 07/11/2023, trên mỗi trang được đánh số có chữ ký xác nhận của bị can Nguyễn Tấn Q; 01 cuốn sổ ghi chép, bìa màu cam có chữ “Hand book Tân Vĩnh T8", bên trong giấy kẻ ca rô, được đánh số ký hiệu 01 đối với các trang giấy có ghi chữ và số ghi ngày 07/11/2023 (kèm theo hồ sơ vụ án).
  • 32 (ba mươi hai) tờ giấy kẻ ca rô nhiều kích thước, có ghi nội dung giấy mượn tiền, được đánh số ký hiệu từ 01 đến 32 có chữ ký xác nhận của bị can Nguyễn Tấn Q (kèm theo hồ sơ vụ án).

Bản Cáo trạng số 23/CT-VKSSC ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố các bị cáo Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Khẳng định bản Cáo trạng số 23/CT-VKSSC ngày 17 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu truy tố các bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 BLHS là có căn cứ, đúng tội nên giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Căn cứ tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Áp dụng khoản 2, Điều 201, điểm s khoản 1, Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 BLHS đối với bị cáo Nguyễn Tấn Q phạt bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ vào thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2023 đến ngày 31/01/2024. Áp dụng khoản

6

2 Điều 201, điểm s, n khoản 1, Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35, 54 BLHS đối với bị cáo Võ Thị Hồng H phạt bị cáo từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 BLHS, phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Tấn Q từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.

Về vật chứng vụ án:

  • Số tiền 116.450.000 đồng quá trình điều tra chứng minh đây là tài sản cá nhân của bị cáo Q. Tuy nhiên để thực hiện các nghĩa vụ của bị cáo liên quan trong vụ án này nên đề nghị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án
  • Số tiền 3.000.000 đồng bà Võ Thị R trả lãi cho Nguyễn Tấn Q đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước phần lãi suất trong mức lãi suất 20%/năm là 328.000 đồng, trả lại cho bà R số tiền lãi bị cáo thu lời bất chính là 2.672.000 đồng.
  • 01 vòng kim loại màu bạc loại vòng đeo tay; 01 (một) vòng kim loại màu vàng có chữ CHANEL; 01 vòng đeo tay kim loại màu vàng phần mặt hai bán cầu có đính đá; 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng hình con công có đính đá; 01 vòng đeo tay nhiều viên hình cầu tròn sâu vào thành chuỗi băng kim loại màu vàng; 01 vòng kim loại được sâu thành chuỗi bởi nhiều viên hình cầu màu vàng đoạn nối có dây thòng hình kim tiền loại vòng đeo cổ. Cơ quan CSĐT đang tạm giữ là tài sản riêng của bà Võ Thị Hồng H nên đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo H.
  • 03 hộp mực lăn tay gồm: 01 hộp lăn tay mực đỏ hiệu “Rorse”, vỏ kim loại; 01 hộp lăn tay vỏ nhựa, màu trắng – xám, mực đỏ hiệu “Phing SP-3”; 01 hộp lăn tay vỏ nhựa, màu đen, mực đỏ hiệu “Tordat”. Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu huỷ
  • 01 bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp tên Lê Thị P2 đề nghị HĐXX trả lại cho chị Lê Thị P2; 01 bằng trung học phổ thông tên Nguyễn Minh B2 đề nghị HĐXX trả lại cho anh Nguyễn Minh B2.
  • 03 quyển sổ ghi chép việc vay, mượn tiền gồm: 01 cuốn sổ, bìa màu xanh, trên bài có chữ “Hand book Tân Vĩnh T8”, bên trong giấy kẻ ô ca rô được đánh số thứ tự từ 01 đến 57, đối với các trang giấy có ghi chữ và số, ghi ngày 01/2023 và có chữ ký xác nhận của bị can Nguyễn Tấn Q; 01 sổ ghi chép bìa màu đỏ có chữ “Hand book T”, bên trong sổ có các tờ giấy ghi các nội dung chữ và số được đánh số ký hiệu từ 01 đến 11, tất cả ghi ngày 07/11/2023, trên mỗi trang được đánh số có chữ ký xác nhận của bị can Nguyễn Tấn Q; 01 cuốn sổ ghi chép, bìa màu cam có chữ “Hand book Tân Vĩnh T8”, bên trong giấy kẻ ca rô, được đánh số ký hiệu 01 đối với các trang giấy có ghi chữ và số ghi ngày 07/11/2023 (kèm theo hồ sơ vụ án); 32 (ba mươi hai) tờ giấy kẻ ca rô nhiều kích thước, có ghi nội dung giấy mượn tiền, được đánh số ký hiệu từ 01 đến 32 có chữ

7

ký xác nhận của bị can Nguyễn Tấn Q (kèm theo hồ sơ vụ án). Đề nghị HĐXX tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

Về biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự

  • Truy thu nộp ngân sách nhà nước tổng số tiền gốc 750.000.000 đồng mà các bị cáo Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H dùng vào việc cho vay, trong đó bao gồm:
    • Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền mà những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã trả lại tiền vay gốc cho bị cáo Nguyễn Tấn Q và Võ Thị Hồng H tổng số tiền 464.000.000 đồng.
    • Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền nợ gốc 286.000.000 đồng mà những người có quyền lợi và liên quan chưa trả cho bị cáo Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H như sau: Bà Võ Thị R số tiền 40.000.000 đồng, bà Lê Thị Kim D số tiền 10.000.000 đồng, bà Trần Thị M1 số tiền 3.000.000 đồng, ông Huỳnh Xuân N số tiền 8.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị H2 số tiền 5.000.000 đồng, ông Võ Hữu T7 số tiền 200.000.000 đồng, ông Phạm Châu T3 số tiền 18.000.000 đồng
  • Buộc bị cáo Nguyễn Tấn Q trả lại số tiền thu lợi bất chính (khoản vượt quá lãi suất tối đa mà pháp luật quy định) cho 17 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan như sau: Trả cho bà Võ Thị R số tiền 77.488.000 đồng, bà Huỳnh Thị T5 số tiền 1.336.000 đồng, bà Lê Thị Kim D số tiền 17.368.000 đồng, bà Trần Thị M1 số tiền 12.024.000 đồng, bà Nguyễn Thị Kim Y số tiền 6.680.000 đồng, ông Huỳnh Xuân N số tiền 22.712.000 đồng, bà Nguyễn Thanh H4 số tiền 1.336.000 đồng, bà Nguyễn Thị L5 6.680.000 đồng, bà Trịnh Thị L2 số tiền 4.453.000 đồng, ông Nguyễn Phi H1 số tiền 4.676.000 đồng, bà Nguyễn Thị H2 số tiền 10.020.000 đồng, ông Nguyễn Văn T4 số tiền 2.994.667 đồng, bà Nguyễn Thị Xuân Đ số tiền 5.344.000 đồng, ông Võ Hữu T7 số tiền 126.960.000 đồng, ông Trần Đăng M số tiền 80.160.000 đồng, ông Ngô Văn L3 số tiền 2.508.000 đồng, ông Phạm Châu T3 số tiền 2.786.667 đồng.
  • Truy thu số tiền của bị cáo Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H số tiền lãi 50.156.667 đồng không vượt quá mức lãi suất tối đa pháp luật quy định để nộp ngân sách nhà nước (đây là tiền lãi thu được từ tiền phạm tội mà có).
  • Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền vay gốc 10.000.000 đồng mà bà Võ Thị R chưa trả lại cho bị cáo Võ Thị Hồng H; truy thu nộp ngân sách nhà nước từ bị cáo H số tiền 656.000 đồng tiền lãi thu được từ tiền phạm tội mà có; bị cáo H trả cho bà R số tiền thu lời bất chính 5.344.000 đồng.
  • Đối với bà Trần Thị Ú cho vợ chồng Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H vay số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất 02%/01 tháng (24,33 %/01 năm) không đủ yếu tố cấu thành tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự quy định tại Điều 201 BLHS.

8

  • Đối với ông Trịnh B1 cho vợ chồng Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H vay số tiền 200.000.000 đồng không tính lãi đây là giao dịch dân sự nên không xem xét.
  • Đối với hành vi Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H cho 08 người vay với lãi suất từ 05% đến 8%/tháng (từ 60,83% đến 97,33%/năm) không đủ yếu tố cấu thành tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên không xem xét xử lý.
  • Đối với hành vi Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H cho 16 người vay gồm: Nguyễn Văn S1, Nguyễn Nhựt T9, Nguyễn Nhựt K, Nguyễn Nhuật T10, Lê Thị Hoàng H5, Dương Văn T11, Trần Văn Q1, Nguyễn Thái S2, Trần Đ2, Lê Ngọc H6, Nguyễn Ngọc S3, Trương Thị N1, Dương Thị C, Đinh Thái B3, Võ Thị Mỹ L7, Nguyễn Minh B2, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh nhưng không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được những người này, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ sau.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H khai: Các bị cáo thừa nhận hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bị cáo đã phạm tội, Viện kiểm sát truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là hoàn toàn đúng không oan, sai gì cho bị cáo. Bị cáo Q, H khai nhận trong quá trình Toà án chuẩn bị đưa bị vụ án ra xét xử những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Thanh H4, Nguyễn Thị L5, Nguyễn Phi H1, Ngô Văn L3 đã trả hết nợ gốc cho các bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tấn Q - Luật sư Trịnh Bình T1 trình bày: Thống nhất với toàn bộ lời luận tội của đại diện viện kiểm sát tại phiên toà và xin trình bày thêm những tình tiết để HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, số tiền bị cáo cho vay không lớn mục đích cho vay là để nuôi con nhỏ. Bị cáo có 03 người con chưa thành niên đang tuổi ăn học và để chữa bệnh cho bị cáo, bị cáo có trình độ học vấn thấp, việc bị cáo cho vay là sự tự thoả thuận giữa các bên, không bị ai ép buộc; riêng đối với bị cáo H có nhân thân tốt, phạm tội khi đang mang thai nên xin HĐXX xem xét mức hình phạt thấp nhất đối với các bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo biết hành vi của các bị cáo là sai, vi phạm pháp luật xin HĐXX xem xét xử phạt các bị cáo mức thấp nhất, bị cáo H xin được hưởng án treo để ở nhà nuôi con nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng,

9

người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

- Về sự vắng mặt của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Toà án đã triệu tập nhiều lần đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng vẫn vắng mặt, quá trình điều tra đã có lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Việc vắng mặt của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và tại Cơ quan điều tra phù hợp nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: Từ tháng 12 năm 2021 đến tháng 11 năm 2023, bị cáo Nguyễn Tấn Q, bị cáo Võ Thị Hồng H có hành vi cho 17 người vay tổng số tiền gốc là 750.000.000 đồng, với lãi suất từ 10% đến 15%/tháng (từ 121,67% đến 182,5%/năm), đã thu lợi bất chính số tiền 385.126.667 đồng. Hành vi vi phạm của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, vai trò, mức độ, hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo có trên 02 lần thu lợi bất chính số tiền trên 30.000.000 đồng trở lên nên bị áp dụng tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Riêng bị cáo H khi phạm tội là người đang mang thai nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 BLHS.

[3.3] Các bị cáo là người có đủ năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là trong lĩnh vực tiền tệ, các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, các bị cáo biết việc người khác đang gặp khó khăn về kinh tế nhưng muốn hưởng lợi bất chính nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Riêng bị cáo Nguyễn Tấn Q có nhân thân xấu, xét về tính chất mức độ về hành vi phạm tội của bị cáo nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính chất giáo dục, răn đe riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung loại tội phạm này trong xã hội.

[4] Do đó, Quyết định truy tố tại Cáo trạng số 23/CT-VKSSC ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan gì cho các bị cáo. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên HĐXX nhận thấy căn cứ vào điều kiện hoàn

10

cảnh, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo để trở thành người có ích, người công dân tốt cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: phạt bị cáo Nguyễn Tấn Q số tiền 50.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về vật chứng:

  • Số tiền 116.450.000 đồng quá trình điều tra chứng minh đây là tài sản cá nhân của bị cáo Q. Tuy nhiên để thực hiện các nghĩa vụ của bị cáo liên quan trong vụ án này nên đề nghị tiếp tục tạm giữ để đảm bảo việc thi hành án.
  • Số tiền 3.000.000 đồng bà Võ Thị R trả lãi cho Nguyễn Tấn Q, tịch thu sung quỹ nhà nước phần lãi suất trong mức lãi suất 20%/năm là số tiền 328.000 đồng, trả lại cho bà R số tiền lãi bị cáo thu lời bất chính là 2.672.000 đ.
  • 01 vòng kim loại màu bạc loại vòng đeo tay; 01 (một) vòng kim loại màu vàng có chữ CHANEL; 01 vòng đeo tay kim loại màu vàng phần mặt hai bán cầu có đính đá; 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng hình con công có đính đá; 01 vòng đeo tay nhiều viên hình cầu tròn sâu vào thành chuỗi băng kim loại màu vàng; 01 vòng kim loại được sâu thành chuỗi bởi nhiều viên hình cầu màu vàng đoạn nối có dây thòng hình kim tiền loại vòng đeo cổ. Cơ quan CSĐT đang tạm giữ là tài sản riêng của bà Võ Thị Hồng H nên HĐXX trả lại cho bị cáo H.
  • 03 hộp mực lăn tay gồm: 01 hộp lăn tay mực đỏ hiệu “Rorse”, vỏ kim loại; 01 hộp lăn tay vỏ nhựa, màu trắng – xám, mực đỏ hiệu “Phing SP-3”; 01 hộp lăn tay vỏ nhựa, màu đen, mực đỏ hiệu “Tordat” là công cụ phạm tội nên HĐXX tịch thu tiêu huỷ.
  • 01 bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp tên Lê Thị P2 nên HĐXX trả lại cho chị Lê Thị P2; 01 bằng trung học phổ thông tên Nguyễn Minh B2 nên HĐXX trả lại cho anh Nguyễn Minh B2.
  • 03 quyển sổ ghi chép việc vay, mượn tiền gồm: 01 cuốn sổ, bìa màu xanh, trên bài có chữ “Hand book Tân Vĩnh T8”, bên trong giấy kẻ ô ca rô được đánh số thứ tự từ 01 đến 57, đối với các trang giấy có ghi chữ và số, ghi ngày 01/2023 và có chữ ký xác nhận của bị cáo Nguyễn Tấn Q; 01 sổ ghi chép bìa màu đỏ có chữ “Hand book T”, bên trong sổ có các tờ giấy ghi các nội dung chữ và số được đánh số ký hiệu từ 01 đến 11, tất cả ghi ngày 07/11/2023, trên mỗi trang được đánh số có chữ ký xác nhận của bị cáo Nguyễn Tấn Q; 01 cuốn sổ ghi chép, bìa màu cam có chữ “Hand book Tân Vĩnh T8”, bên trong giấy kẻ ca rô, được đánh số ký hiệu 01 đối với các trang giấy có ghi chữ và số ghi ngày 07/11/2023 (kèm theo hồ sơ vụ án); 32 (ba mươi hai) tờ giấy kẻ ca rô nhiều kích thước, có ghi nội dung giấy mượn tiền, được đánh số ký hiệu từ 01 đến 32 có chữ ký xác nhận của bị cáo Nguyễn Tấn Q (kèm theo hồ sơ vụ án) nên HĐXX tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.

Về biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự

11

  • Truy thu nộp ngân sách nhà nước tổng số tiền gốc 750.000.000 đồng mà các bị cáo Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H dùng vào việc cho vay, trong đó bao gồm:
    • Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền mà những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã trả lại số tiền vay gốc cho bị cáo Nguyễn Tấn Q và bị cáo Võ Thị Hồng H tổng số tiền 464.000.000 đồng.
    • Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền nợ gốc 286.000.000 đồng mà những người có quyền lợi và liên quan chưa trả cho các bị cáo Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H như sau: Bà Võ Thị R số tiền 40.000.000 đồng, bà Lê Thị Kim D số tiền 10.000.000 đồng, bà Trần Thị M1 số tiền 3.000.000 đồng, ông Huỳnh Xuân N số tiền 8.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị H2 số tiền 5.000.000 đồng, ông Võ Hữu T7 số tiền 200.000.000 đồng, ông Phạm Châu T3 số tiền 20.000.000 đồng
  • Buộc bị cáo Nguyễn Tấn Q trả lại số tiền thu lợi bất chính (khoản vượt quá lãi suất tối đa mà pháp luật quy định) cho 17 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan như sau: Trả cho bà Võ Thị R số tiền 77.488.000 đồng, bà Huỳnh Thị T5 số tiền 1.336.000 đồng, bà Lê Thị Kim D số tiền 17.368.000 đồng, bà Trần Thị M1 số tiền 12.024.000 đồng, bà Nguyễn Thị Kim Y số tiền 6.680.000 đồng, ông Huỳnh Xuân N số tiền 22.712.000 đồng, bà Nguyễn Thanh H4 số tiền 1.336.000 đồng, bà Nguyễn Thị L5 6.680.000 đồng, bà Trịnh Thị L2 số tiền 4.453.000 đồng, ông Nguyễn Phi H1 số tiền 4.676.000 đồng, bà Nguyễn Thị H2 số tiền 10.020.000 đồng, ông Nguyễn Văn T4 số tiền 2.994.667 đồng, bà Nguyễn Thị Xuân Đ số tiền 5.344.000 đồng, ông Võ Hữu T7 số tiền 126.960.000 đồng, ông Trần Đăng M số tiền 80.160.000 đồng, ông Ngô Văn L3 số tiền 2.508.000 đồng, ông Phạm Châu T3 số tiền 2.786.667 đồng.
  • Truy thu số tiền của bị cáo Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H số tiền lãi 50.156.667 đồng không vượt quá mức lãi suất tối đa pháp luật quy định để nộp ngân sách nhà nước (đây là tiền lãi thu được từ tiền phạm tội mà có).
  • Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền vay gốc 10.000.000 đồng mà bà Võ Thị R chưa trả lại cho bị cáo Võ Thị Hồng H; truy thu nộp ngân sách nhà nước từ bị cáo H số tiền 656.000 đồng tiền lãi thu được từ tiền phạm tội mà có; bị cáo H trả cho bà R số tiền thu lời bất chính 5.344.000 đồng.

[7] Đối với bà Trần Thị Ú cho vợ chồng Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H vay số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất 02%/01 tháng (24,33 %/01 năm) không đủ yếu tố cấu thành tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự quy định tại Điều 201 BLHS nên HĐXX không xét.

[8] Đối với ông Trịnh B1 cho vợ chồng Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H vay số tiền 200.000.000 đồng không tính lãi đây là giao dịch dân sự nên không xem xét.

[9] Đối với hành vi Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H cho 08 người vay với lãi suất từ 05% đến 8%/tháng (từ 60,83% đến 97,33%/năm) không đủ yếu tố cấu thành tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên không xem xét xử lý.

12

[10] Đối với hành vi Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H cho 16 người vay gồm: Nguyễn Văn S1, Nguyễn Nhựt T9, Nguyễn Nhựt K, Nguyễn Nhật T12, Lê Thị Hoàng H5, Dương Văn T11, Trần Văn Q1, Nguyễn Thái S2, Trần Đ2, Lê Ngọc H6, Nguyễn Ngọc S3, Trương Thị N1, Dương Thị C, Đinh Thái B3, Võ Thị Mỹ L7, Nguyễn Minh B2, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh nhưng không có mặt tại địa phương nên chưa làm việc được những người này, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ sau, nên HĐXX không xét

[11] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Khoản 2, 3 Điều 201, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Tấn Q.
  • Khoản 2 Điều 201, điểm s, n khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 35, Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ Thị Hồng H.
  • Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự.
  • Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự.
  • Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn Q 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Nhưng được trừ vào thời gian bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã S từ ngày 07/11/2023 đến ngày 31/01/2024.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Tấn Q số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

Xử phạt: Bị cáo Võ Thị Hồng H số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng)

2. Về xử lý vật chứng:

  • Trả lại cho bị cáo Võ Thị Hồng H 01 vòng kim loại màu bạc loại vòng đeo tay; 01 (một) vòng kim loại màu vàng có chữ CHANEL; 01 vòng đeo tay kim loại màu vàng phần mặt hình hai bán cầu có đính đá; 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng hình con công có đính đá; 01 vòng đeo tay nhiều viên hình cầu tròn sâu vào thành chuỗi băng kim loại màu vàng; 01 vòng kim loại được sâu thành chuỗi bởi nhiều viên hình cầu màu vàng

13

đoạn nối có dây thòng hình kim tiền loại vòng đeo cổ. Cơ quan CSĐT đang tạm giữ là tài sản riêng của bà Võ Thị Hồng H.

  • Tịch thu tiêu huỷ 03 hộp mực lăn tay gồm: 01 hộp lăn tay mực đỏ hiệu “Rorse”, vỏ kim loại; 01 hộp lăn tay vỏ nhựa, màu trắng – xám, mực đỏ hiệu “Phing SP-3"; 01 hộp lăn tay vỏ nhựa, màu đen, mực đỏ hiệu “Tordat”.
  • Trả lại 01 bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp tên Lê Thị P2 cho chị Lê Thị P2; 01 bằng trung học phổ thông tên Nguyễn Minh B2 trả lại cho anh Nguyễn Minh B2.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/4/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã S và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên).

  • Tạm giữ số tiền 116.450.000 đồng để đảm bảo việc thi hành án; trả lại cho bà Võ Thị R số tiền lãi bị cáo thu lợi bất chính là 2.672.000 đồng; tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 328.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000101 ngày 24/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.
  • Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 03 quyển sổ ghi chép việc vay, mượn tiền gồm: 01 cuốn sổ, bìa màu xanh, trên bài có chữ “Hand book Tân Vĩnh T8”, bên trong giấy kẻ ô ca rô được đánh số thứ tự từ 01 đến 57, đối với các trang giấy có ghi chữ và số, ghi ngày 01/2023 và có chữ ký xác nhận của bị cáo Nguyễn Tấn Q; 01 sổ ghi chép bìa màu đỏ có chữ “Hand book T”, bên trong sổ có các tờ giấy ghi các nội dung chữ và số được đánh số ký hiệu từ 01 đến 11, tất cả ghi ngày 07/11/2023, trên mỗi trang được đánh số có chữ ký xác nhận của bị cáo Nguyễn Tấn Q; 01 cuốn sổ ghi chép, bìa màu cam có chữ “Hand book Tân Vĩnh T8”, bên trong giấy kẻ ca rô, được đánh số ký hiệu 01 đối với các trang giấy có ghi chữ và số ghi ngày 07/11/2023 (kèm theo hồ sơ vụ án); 32 (ba mươi hai) tờ giấy kẻ ca rô nhiều kích thước, có ghi nội dung giấy mượn tiền, được đánh số ký hiệu từ 01 đến 32 có chữ ký xác nhận của bị cáo Nguyễn Tấn Q (kèm theo hồ sơ vụ án).

3. Về biện pháp tư pháp:

  • Truy thu nộp ngân sách nhà nước tổng số tiền gốc 750.000.000 đồng mà các bị cáo Nguyễn Tấn Q, Võ Thị Hồng H dùng vào việc cho vay, trong đó bao gồm:
    • Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền mà những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã trả lại số tiền vay gốc cho bị cáo Nguyễn Tấn Q và bị cáo Võ Thị Hồng H tổng số tiền 464.000.000 đồng.
    • Truy thu nộp ngân sách nhà nước tổng số tiền nợ gốc là 286.000.000 đồng mà những người có quyền lợi và liên quan chưa trả cho bị cáo Nguyễn Tấn Q và bị cáo Võ Thị Hồng H như sau: Bà Võ Thị R số tiền 40.000.000 đồng, bà Lê Thị Kim D số tiền 10.000.000 đồng, bà Trần Thị M1 số tiền 3.000.000 đồng, ông Huỳnh Xuân N số tiền 8.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị H2 số tiền 5.000.000 đồng, ông Võ Hữu T7 số tiền 200.000.000 đồng, ông Phạm Châu T3 số tiền 20.000.000 đồng.

14

  • Buộc bị cáo Nguyễn Tấn Q và Võ Thị Hồng H trả lại số tiền thu lợi bất chính (khoản vượt quá lãi suất tối đa mà pháp luật quy định) cho 17 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan như sau: Trả cho bà Võ Thị R số tiền 77.488.000 đồng, bà Huỳnh Thị T5 số tiền 1.336.000 đồng, bà Lê Thị Kim D số tiền 17.368.000 đồng, bà Trần Thị M1 số tiền 12.024.000 đồng, bà Nguyễn Thị Kim Y số tiền 6.680.000 đồng, ông Huỳnh Xuân N số tiền 22.712.000 đồng, bà Nguyễn Thanh H4 số tiền 1.336.000 đồng, bà Nguyễn Thị L5 6.680.000 đồng, bà Trịnh Thị L2 số tiền 4.453.000 đồng, ông Nguyễn Phi H1 số tiền 4.676.000 đồng, bà Nguyễn Thị H2 số tiền 10.020.000 đồng, ông Nguyễn Văn T4 số tiền 2.994.667 đồng, bà Nguyễn Thị Xuân Đ số tiền 5.344.000 đồng, ông Võ Hữu T7 số tiền 126.960.000 đồng, ông Trần Đăng M số tiền 80.160.000 đồng, ông Ngô Văn L3 số tiền 2.508.000 đồng, ông Phạm Châu T3 số tiền 2.786.667 đồng.
  • Truy thu số tiền của bị cáo Nguyễn Tấn Q và bị cáo Võ Thị Hồng H số tiền lãi 50.156.667 đồng không vượt quá mức lãi suất tối đa pháp luật quy định để nộp ngân sách nhà nước (đây là tiền lãi thu được từ tiền phạm tội mà có).
  • Truy thu nộp ngân sách nhà nước số tiền vay gốc 10.000.000 đồng mà bà Võ Thị R chưa trả lại cho bị cáo Võ Thị Hồng H; truy thu nộp ngân sách nhà nước từ bị cáo H số tiền 656.000 đồng tiền lãi thu được từ tiền phạm tội mà có; bị cáo H trả cho bà R số tiền thu lời bất chính 5.344.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tấn Q và bị cáo Võ Thị Hồng H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày (mười lăm ngày) kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND TX. Sông Cầu;
  • - VKSND tỉnh PY;
  • - CSĐT Công an TX.Sông Cầu;
  • - Chi cục THADS TX.Sông Cầu;
  • - CQ THAHS TX.Sông Cầu;
  • - Bị cáo, NLQ;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lò Nhật Chuyên

15

16

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HSST ngày 13/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU - TỈNH PHÚ YÊN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 41/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tấn Q
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger