Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/DS-ST

Ngày: 11/9/2024

V/v: "Tranh chấp hợp đồng mua bán"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Đình Vụ
  • 2. Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Đại diện VKSND TP. tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu L - Kiểm sát viên

Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 193/2024/TLST - DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo “Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 244/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2024; “Quyết định hoãn phiên toà” số 132/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1971;
  • Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện Q, Thanh Hóa.
  • - Bị đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm: 1972;
  • Nơi cư trú: SN B T, P. B, TP., tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, Nguyễn Văn S trình bày:

Anh S làm nghề mổ bán thịt lợn nên có quen biết và làm ăn buôn bán với chị Phạm Thị H (ở SN B T, phường B, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa). Từ năm 2017 đến năm 2020 chị H thường xuyên mua hàng (thịt lợn) của anh để bán lại. Quá trình mua bán chị H nhiều lần nợ tiền mua hàng của anh.

Ngày 13/8/2020 anh và chị H có thống nhất chốt số nợ tiền hàng mà chị H còn nợ anh. Chị H đã tự tay viết “Giấy chốt nợ tiền hàng” nội dung xác nhận chị H còn nợ anh tổng số tiền mua hàng 136.235.000 đồng.

Ngày 21/9/2020 chị H đến nhà trả cho anh S 5.000.000đ, chị H có ghi luôn vào “Giấy chốt nợ tiền hàng” đã trả 5.000.000đ. Đến khoảng đầu năm 2021 chị H trả tiếp cho anh S 2.000.000 đồng. Lần này trả ngoài đường nên hai bên không viết giấy hay ký số. Số tiền nợ còn lại 129.235.000 đồng anh đã nhiều lần yêu cầu chị H trả nhưng chị H khất lần không trả. Đến nay tổng số tiền chị H còn nợ anh là 129.235.000 đồng, anh đề nghị Tòa án buộc chị Phạm Thị H trả cho anh toàn bộ số tiền trên, anh không yêu cầu tính lãi.

Về phía bị đơn:

Tại Đơn trình bày và Biên bản lấy lời khai chị Phạm Thị H thừa nhận chị có mua hàng (thịt lợn) của anh S về bán. Quá trình mua bán chị có nợ tiền mua hàng của anh S. Do gia đình chị đang gặp khó khăn về kinh tế, bản thân chị bị tai nạn nên đến nay chị chưa trả hết nợ cho anh S.

Chị H công nhận “Giấy chốt nợ tiền hàng” ngày 03/8/2020 mà anh S nộp cho Tòa án là do chị viết sau khi hai bên chốt nợ tiền hàng. Sau đó chị đã trả cho anh S nhiều lần nhưng chỉ có một lần trả 5.000.000đ là ghi vào trong giấy chốt nợ này. Vì vậy anh S yêu cầu chị phải trả số tiền nợ 129.235.000đ là không đúng. Chị cho rằng chị và anh S còn có giấy chốt nợ khác lập sau giấy chốt nợ ngày 03/8/2020, chị sẽ tìm và giao nộp cho Tòa án chậm nhất là ngày 22/8/2024 để chứng minh về số nợ còn lại. Chị đồng ý trả cho anh S số nợ theo giấy chốt nợ chị sẽ cung cấp cho Tòa án. Chị đề nghị anh S cho chị trả dần, cụ thể: Từ tháng 8/2024 đến tháng 12/2024 mỗi tháng chị trả cho anh S 2.000.000 đồng; Từ tháng 01/2025 mỗi tháng chị H sẽ trả 3.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Trong trường hợp có nguồn để trả chị H sẽ trả cho anh S sớm hơn.

Tại các phiên hòa giải ngày 08/7/2024 và 19/8/2024 mặc dù đã được tống đạt hợp lệ “Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải" nhưng chị H đều không có mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa ngày 06//2024 chị H vắng mặt không đề nghị xét xử vắng mặt, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa và ấn định mở lại phiên tòa vào 13 giờ 30 phút ngày 11/9/2024.

Tại phiên tòa hôm nay, chị H vắng mặt, anh S giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX buộc chị H phải trả cho anh toàn bộ số tiền mua hàng hóa còn nợ anh là 129.235.000đ; Để chị H đỡ khó khăn anh đồng ý cho chị H trả nợ thành nhiều lần trong 02 kỳ hạn. Kỳ 1: Chậm nhất là ngày 31/12/2024 chị H phải trả cho anh đủ số tiền 50.000.000đ; Kỳ 2: Chậm nhất là ngày 30/6/2025 chị H phải trả đủ số tiền còn lại là 79.235.000đ. Nếu đến ngày 31/12/2024 chị H không trả đủ 50.000.000đ thì anh có quyền yêu cầu thi hành án một lần toàn bộ số tiền nợ còn lại của cả hai kỳ. Anh không yêu cầu chị H trả lãi từ trước đến ngày xét xử và lãi sau khi xét xử.

Ý kiến của đại diện VKS: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký và HĐXX, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã tuân thủ đúng quy định; Chị Phạm Thị H chấp hành không đầy đủ quy định. Tại phiên tòa chị H vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, VKS đề nghị HĐXX căn cứ Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt chị H.

Về nội dung vụ án:

Đại diện VKS đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc chị H phải trả cho anh S toàn bộ số tiền mua hàng hóa còn nợ là 129.235.000đ, được chia thành 2 kỳ như anh S đề nghị; Về án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra, xem xét tại phiên toà; Kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. Về thẩm quyền: Anh Nguyễn Văn S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị H trả cho anh số tiền mua hàng còn nợ. Đây là tranh chấp về nghĩa vụ thanh toán phát sinh từ hợp đồng mua bán; Chị H hiện cư trú tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Do đó TAND TP. thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 - Bộ luật TTDS.
    2. Về việc vắng mặt đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng (gồm: Thông báo thụ lý; Giấy triệu tập; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa (có ấn định thời gian mở lại phiên tòa) cho chị H. Tại phiên tòa hôm nay chị Phạm Thị H vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, HĐXX căn cứ Điều 227 - BLTTDS để xét xử vắng mặt chị H.
  2. Về thời hiệu khởi kiện: Không áp dụng quy định về thời hiệu do đương sự không có yêu cầu áp dụng thời hiệu, theo quy định tại khoản 2 Điều 149 - BLDS
  3. Về nội dung tranh chấp:
    1. Đối với yêu cầu của anh S: Anh Nguyễn Văn S yêu cầu Tòa án buộc chị Phạm Thị H trả cho anh S toàn bộ số tiền mua hàng mà chị H còn nợ anh là 129.235.000đ, không yêu cầu tính lãi. Chị H công nhận chị còn nợ tiền mua hàng của anh S và đồng ý trả nợ cho anh S. Tuy nhiên, chị H cho rằng số tiền anh S yêu cầu 129.235.000đ là không đúng vì sau khi hai bên chốt nợ chị đã nhiều lần trả nợ cho anh S, hiện số tiền chị còn nợ thấp hơn 129.235.000₫.

      HHXX xét: Quá trình giải quyết vụ án anh S có giao nộp cho Tòa án 01 “Giấy chốt nợ tiền hàng” ngày 03/8/2020. Nội dung giấy thể hiện tổng số tiền chị H nợ anh S là 136.235.000 đồng và ngày 20/9/2020 chị H đã trả cho anh S 5.000.000 đồng. Đồng thời anh xác nhận chị H còn trả cho anh thêm 2.000.000₫ nhưng không ghi vào giấy. Chị H thừa nhận chị có nợ anh S tiền mua hàng (thịt lợn) và “Giấy chốt nợ tiền hàng” ngày 03/8/2020 là do chị tự viết và ký tên; Song chị cho rằng ngoài 2 lần chị trả nợ như anh S khai nhận chị còn trả cho anh S những lần khác nữa và có viết giấy chốt nợ khác. Tuy nhiên, theo đề nghị của chị H, Tòa án đã dành thời gian cho chị cung cấp tài liệu chứng cứ để chứng minh ngoài số lần trả nợ anh S đã công nhận chị còn trả cho anh S những lần khác. Song đến nay chị H không cung cấp được tài liệu nào.

      Như vậy có đủ cơ sở khẳng định chị H còn nợ anh S số tiền mua hàng hóa là: 136.235.000₫ - 5.000.000₫ - 2.000.000₫ = 129.235.000đ. Nay anh S yêu cầu chị H trả cho anh toàn bộ số tiền còn nợ trên là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 440 - BLDS nên HĐXX chấp nhận.

      Về tiền lãi: Hai bên không có thỏa thuận về lãi; Tại phiên tòa anh S không yêu cầu chị H trả lãi đến ngày xét xử và cả sau khi xét xử. Việc anh S không yêu cầu trả lãi là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

    2. Đối với đề nghị của chị H: Chị Phạm Thị H đề nghị anh S cho chị trả nợ dần. Từ tháng 8/2024 đến tháng 12/2024 chị trả 2.000.000đ/tháng; Từ tháng 01/2025 chị trả 3.000.000đ/tháng cho đến khi hết nợ. Trường hợp có nguồn để trả chị H sẽ trả cho anh S sớm hơn.

      Anh S không đồng ý đề nghị trên của chị H, anh chỉ đồng ý cho chị H trả nợ thành nhiều lần trong 02 kỳ. Kỳ 1: Chậm nhất là ngày 31/12/2024 chị H phải trả đủ 50.000.000₫; Kỳ 2: Chậm nhất là ngày 30/6/2025 chị H phải trả đủ 79.235.000đ. Trường hợp đến ngày 31/12/2024 chị H không trả đủ 50.000.000₫ thì anh có quyền yêu cầu thi hành án một lần toàn bộ số tiền nợ còn lại của cả hai kỳ.

      HĐXX xét, việc anh S đồng ý cho chị H trả nợ theo 02 kỳ là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, có lợi cho chị H, phù hợp với đề nghị được “trả nợ dần” của chị H nên HĐXX chấp nhận.

  4. Về án phí: Do yêu cầu đòi nợ của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận vì vậy chị H phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định tại Điều 147 – BLTTDS; Điều 24; Điều 26 NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 266; Điều 271; Điều 273 - Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 440 - Bộ luật dân sự;

Điều 24; khoản 2 Điều 26 - NQ 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án

Xử:

Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn S. Buộc chị Phạm Thị H phải trả cho anh Nguyễn Văn S số tiền 129.235.000đ (Một trăm hai chín triệu hai trăm ba lăm ngànn đồng). Việc trả tiền được thực hiện thành 02 kỳ cụ thể như sau: Kỳ 1: Chậm nhất là ngày 31/12/2024 chị H phải trả cho anh S đủ số tiền 50.000.000đ; Kỳ 2: Chậm nhất là ngày 30/6/2025 chị H phải trả cho anh S đủ số tiền 79.235.000đ. Trường hợp đến ngày 31/12/2024 chị H không trả đủ 50.000.000₫ thì anh S có quyền yêu cầu thi hành án một lần toàn bộ số tiền nợ còn lại của cả hai kỳ. Anh S không yêu cầu chị H trả lãi.

Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 6.461.750đ án phí dân sự có giá ngạch. Anh Nguyễn Văn S không phải chịu án phí và được nhận lại 3.280.000₫ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001619 ngày 11/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn S được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Chị Phạm Thị H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TP. Thanh Hóa;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/DS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 41/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn S - Phạm thị H ( Tranh chấp hợp đồng mua bán)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger