|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05-9-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Đức Thọ
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Bút
Bà Lê Thị Hồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, tp Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, tp Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuân Lành - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 137/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 25 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QÐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thùy N, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, Tp Đà Nẵng.
- Bị đơn: Ông Hồ Thanh T, sinh năm 1995; địa chỉ: Hòa L, xã H, huyện H, Tp Đà Nẵng.
(Nguyên đơn có mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/4/2024, bản tự khai nguyên đơn - bà Võ Thị Thùy N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà N và ông Hồ Thanh T kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, Tp Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, sau khi kết hôn bà N và ông T sống cùng gia đình nhà chồng tại Khu tái định cư H (thôn Q), xã H, huyện H. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến đầu năm 2021, bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, ông T không lo làm ăn, thiếu trách nhiệm với vợ con, không chăm lo gia đình. Bà N và gia đình đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng ông T vẫn không thay đổi, vì vậy bà N và ông T sống ly thân từ tháng 4/2022 cho đến nay. Tại phiên tòa, bà N cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho bà N được ly hôn với ông T.
Về con chung: Có 01 con chung là Hồ Đăng K, sinh ngày 22/5/2018. Ly hôn, bà N yêu cầu được quyền nuôi con chung, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
* Đối với bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ cho bị đơn để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Phát biểu của Kiểm sát viên:
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
+ Từ khi thụ lý đến trước thời điểm mở phiên tòa: Thẩm phán, Thư ký Tòa án, nguyên đơn tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa tuân thủ đúng theo pháp luật tố tụng dân sự như không đến Tòa án viết bản khai và tham gia hòa giải.
+Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đầy đủ, đúng các thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa tuân thủ đúng theo pháp luật tố tụng dân sự như không đến Tòa án để tham gia phiên tòa.
- Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
+ Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Thùy N, xử cho bà N được ly hôn với ông Hồ Thanh T.
+ Về quan hệ con chung: Đối với con Hồ Đăng K, sinh ngày 22/5/2018 thì bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng đến khi con đủ 18 tuổi. Xét thấy yêu cầu được quyền nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/tháng của bà N là phù hợp với thực tế và có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
+ Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên đề nghị không xét.
+ Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Tranh chấp ly hôn giữa bà Võ Thị Thùy N và ông Hồ Thanh T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Tòa án triệu tập hợp lệ đối với bị đơn ông Hồ Thanh T để tham gia phiên tòa, tuy nhiên ông Hồ Thanh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Thùy N và ông Hồ Thanh T kết hôn năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện H, Tp Đà Nẵng. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ, quá trình chung sống do có mâu thuẫn không tự giải quyết được nên bà N làm đơn xin ly hôn với ông T.
Xét thấy, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhằm tạo điều kiện để bà Võ Thị Thùy N và ông Hồ Thanh T được đoàn tụ cùng xây dựng gia đình hạnh phúc nhưng ông T nhiều lần vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày quan điểm hay trực tiếp tranh tụng tại phiên tòa đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều đó chứng tỏ ông T không có thiện chí níu kéo, hòa giải và mong muốn khắc phục mâu thuẫn để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Tại phiên tòa, bà N khai nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, ông T không lo làm ăn, sống thiếu trách nhiệm, không chăm lo gia đình. Bà N và gia đình đã nhiều lần khuyên nhủ nhưng vẫn không thay đổi, bà N và ông T sống ly thân từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay và bà N cho rằng vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông T. Xét thấy, mâu thuẫn của bà N và ông T đã đến mức trầm trọng. Vì vậy, cần xử cho bà N được ly hôn với ông T là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2]. Về con chung: Bà Võ Thị Thùy N xác nhận trong thời kỳ hôn nhân bà N và ông Hồ Thanh T có 01(một) con chung tên là Hồ Đăng K, sinh ngày 22/5/2018. Ly hôn, bà N có nguyện vọng được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Hồ Đăng K và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
Xét thấy, từ khi bà Võ Thị Thùy N và ông Hồ Thanh T sống ly thân với nhau từ 4 năm 2022 đến nay cháu Hồ Đăng K được bà N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng nên việc tiếp tục giao cháu K cho bà N được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời buộc ông Hồ Thanh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu K 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi là phù hợp với thực tế, phù hợp Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Võ Thị Thùy N xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xét.
[2.4]. Về án phí:
- - Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, bà Võ Thị Thùy N phải chịu là 300.000 đồng;
- - Án phí cấp dưỡng nuôi con chung, ông Hồ Thanh T phải chịu là 300.000 đồng.
[2.5]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang tại phiên tòa là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Thùy N về việc yêu cầu xin ly hôn với bị đơn ông Hồ Thanh T.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị Thùy N được ly hôn với ông Hồ Thanh T.
2. Về quan hệ con chung: Giao con chung Hồ Đăng K, sinh ngày 22/5/2018 cho bà Võ Thị Thùy N trực tiếp nuôi dưỡng,buộc ông Hồ Thanh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) cho đến khi con đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng nuôi con bắt đầu tính từ tháng 9 năm 2024, vào ngày 01 hàng tháng.
Các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích của con, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung.
Kể từ ngày bà Võ Thị Thùy N có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Hồ Thanh T không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì ông Hồ Thanh T phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.
3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không có.
4. Về án phí:
- - Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Võ Thị Thùy N phải chịu là 300.000 đồng nhưng được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp theo biên lai thu số 0002073 ngày 17 tháng 5 năm 2024 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Bà Võ Thị Thùy N đã nộp đủ án phí.
- - Án phí cấp dưỡng nuôi con ông Hồ Thanh T phải chịu là 300.000 đồng.
5. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đức Thọ |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản an so 41
