TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày 04-9-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trịnh Thị Oanh.
- Ông Nguyễn Văn Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Lường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thuỷ - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Pắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức T (Tên gọi khác: Không) - Sinh năm 1994, tại tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Làm nông.
Nơi cư trú: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Nghề nghiệp: Làm nông. Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Ê Đê; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Hồng N, sinh năm 1970 và con bà Phạm Thị H, sinh năm 1974. Gia đình bị cáo có 03 anh, chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.
Tiền án, Tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/4/2024 đến nay (có mặt tại phiên tòa).
2.2. Người bị hại: Anh Y Lập Ê, sinh năm 2009 (Chết).
- Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà H Nguyên Ê1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Buôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
2.3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1974 (có mặt)
- Bà H Nguyên Ê1, sinh năm 1989. (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bà Lê Thị S, sinh năm 1963. (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Địa chỉ: Buôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk
Địa chỉ: Thôn A, xã K, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
2.4. Người làm chứng:
- Chị Lê Thị T1, sinh năm 1980 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 22/02/2024, Nguyễn Đức T đã có giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 09/02/2017 điều khiển xe mô tô biển số 47M1 - 505.87 lưu thông trên đường liên thôn theo hướng Quốc lộ B đi thôn T, xã E để đi uống cà phê. Khi đi đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, T đã để xe mô tô do mình điều khiển đi lấn sang phần đường bên trái theo hướng đi nên đã tông vào xe mô tô biển số 47H5-6235 do Y Lập Ê sinh năm 2009, cư trú tại buôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk điều khiển lưu thông theo hướng ngược chiều. Hậu quả, Y L Êñuôl chết trên đường đi cấp cứu, Nguyễn Đức T bị thương, 02 xe mô tô hư hỏng.
Qua khám nghiệm hiện trường xác định: Nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường liên thôn thuộc thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Mặt đường được trải bê tông tương đối bằng phẳng rộng 3,65m. Hai bên không có lề đường, không có vạch kẻ đường, không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn, không có biển báo hiệu giao thông đường bộ, không có đường giao nhau, không có đèn chiếu sáng công cộng.
Sau tai nạn xe mô tô biển số 47H5-6235 ngã nghiêng bên trái nằm ngoài phần đường bên trái theo hướng Quốc lộ B đi thôn T, xã E. Đầu xe hướng về Quốc lộ B, đuôi xe hướng thôn T.
Xe mô tô biển số 47M1 - 505.87 ngã nghiêng bên phải nằm trên phần đường bên phải theo hướng hướng Quốc lộ B đi thôn T, xã E. Đầu xe hướng về thôn T, đuôi xe hướng về Quốc lộ B.
Tại hiện trường, có 01 vết cày kích thước có kích thước (1,00 x 0,07 x 0,02)m do xe mô tô biển số 47H5-6235 tạo ra; 01 vết chất dịch màu đỏ có kích thước (0,65 x 0,30)m; 01 vùng mảnh vỡ có kích thước (6,10 x 1,70)m.
Điểm va chạm đầu tiên giữa 02 xe mô tô là phần đầu xe phía trước bên trái của xe mô tô biển số 47M1- 505.87 với phần đầu xe phía trước bên trái của xe mô tô biển số 47H5-6235 nằm trên phần đường bên trái theo hướng Quốc lộ B đi thôn T, xã E. Đo từ hình chiếu vuông góc điểm va chạm đầu tiên của hai phương tiện đến mép đường bên phải là 2,80m và đo đến đầu vết cày 1 là 1,55m, đo đến tâm vết chất dịch màu đỏ là 0,75m.
Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn:
- Xe mô tô biển số 47M1 - 505.87, nhãn hiệu Honda Vision, màu sơn đỏ, dung tích 108cm³: Gương chiếu hậu bên trái, hộp nhựa công tơ mét bị vỡ, đèn chiếu sáng phía trước, hộp nhựa bảo vệ phía trước đầu xe, hộp mặt nạ phía trước đầu xe, dè chắn bùn phía trước của bánh trước, yếm chắn gió hai bên bị vỡ; Niềng bánh xe trước bị vỡ, đẩy từ ngoài vào trong. Phần gác để chân bên trái phía trước bị vỡ, đẩy từ trước ra sau, từ trên xuống dưới.
- Xe mô tô biển số 47H5 - 6235, nhãn hiệu Flower, màu sơn nâu, dung tích 97cm³: Hộp nhựa đầu, đèn chiếu sáng phía trước, thanh giảm xóc bên trái bánh trước bị gãy, dè chắn bùn của bánh trước, trục bánh trước bên trái, bộ phận lọc gió, lốc máy bên trái bị vỡ. Niềng bánh trước bên trái bị móp méo biến dạng, đẩy cong từ ngoài vào tâm trục. bị vỡ hoàn toàn. Cần số bên trái bị đẩy cong từ trước ra sau. Đầu gác để chân giữa bên trái bị mài mòn kim loại và mài mòn cao su.
Tại bản kết luận giám định pháp y số 61/TgT - TTPY ngày 22/3/2024 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Đ đã kết luận nguyên nhân tử vong đối với Y Lập Ê: Chấn thương sọ não nặng, chấn thương hàm mặt nặng, nhiều thương tích do tai nạn giao thông.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 329/KLTTCT - PY ngày 08/04/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể Nguyễn Đức T là 68%.
Kết luận định giá tài sản số 19/KL - HĐĐGTS ngày 16/04/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện K đối với các bộ phận hư hỏng có giá trị thiệt hại tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn của xe mô tô biển số 47M1 - 505.87 là 3.240.000đồng; xe mô tô biển số 47H5 - 6235 là 940.000đồng.
Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tạm giữ xe mô tô biển số 47M1 - 505.87; xe mô tô biển số 47H5 - 6235 và chụp ảnh minh họa để phục vụ công tác điều tra.
Ngày 20/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe mô tô biển số 47M1 - 505.87 cho chủ sở hữu là bà Phạm Thị H, sinh năm 1974, trú tại thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk và xe mô tô biển số 47H5 - 6235 bà H Nguyên Ê1, sinh năm 1989, trú tại buôn P, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo Quyết định xử lý vật chứng số 266 ngày 20/7/2024.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Nguyễn Đức T đã bồi thường cho gia đình Y L Êñuôl số tiền 100.000.000 đồng, gia đình Y Lập Ê đã có đơn bãi nại, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Đức T.
Đối với phần hư hỏng của xe mô tô biển số 47M1 - 505.87 và xe mô tô biển số 47H5 - 6235, các chủ sở hữu không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.
Cáo trạng số: 42/CT-VKS-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc đã nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả đối với hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 12 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng đến 36 tháng.
* Về biện pháp tư pháp:
Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị HĐXX chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại xe mô tô biển số 47M1 - 505.87 cho chủ sở hữu là bà Phạm Thị H và trả lại xe mô tô biển số 47H5 - 6235 bà H Nguyên Êñuôl là các chủ sở hữu.
Đối với phần hư hỏng của xe mô tô biển số 47M1 - 505.87 và xe mô tô biển số 47H5 - 6235, các chủ sở hữu không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 và 591 Bộ luật dân sự, Đề nghị HĐXX chấp nhận bị cáo đã bồi thường cho gia đình Y L Êñuôl số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), người đại diện hợp pháp của bị hại Y L Êñuôl đồng ý với số tiền trên và không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.
Bị cáo không có ý kiến đối đáp, tranh luận gì thêm đối với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Bị cáo ân hận vì đã vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Đắk Lắk, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 22/02/2024, Nguyễn Đức T đã có giấy phép lái xe hạng A1, điều khiển xe mô tô biển số 47M1 - 505.87 lưu thông trên đường liên thôn theo hướng Quốc lộ B đi thôn T, xã E. Khi đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn T, xã E, thì gặp xe mô tô biển số 47H5 - 6235 do Y Lập Êñuôl điều khiển đang lưu thông theo hướng ngược lại. Do đi không đúng phần đường quy định nên Nguyễn Đức T đã để xe mô tô do mình điều khiển va chạm với xe mô tô do Y Lập Ê điều khiển. Hậu quả, Y L Êñuôl chết trên đường đi cấp cứu, Nguyễn Đức T bị thương tích 68%.
Hành vi trên của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ và phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Điều 260 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người...”.
Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Pắc đã truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như trong Bản cáo trạng số 42/CT-VKS-HS ngày 09 tháng 8 năm 2024 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, an toàn giao thông đường bộ và tính mạng, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Nguyên nhân dẫn đến vụ án do bị cáo không chấp hành đúng các quy định của luật Giao thông đường bộ dẫn đến gây tai nạn, hậu quả làm cho Y L Êñuôl tử vong, gây đau thương cho gia đình nạn nhân, đồng thời gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cần xử phạt bị cáo mức án tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để răn đe, giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và được đại diện gia đình bị hại làm đơn bãi nại, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, bị cáo còn có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, bị cáo phạm tội nhưng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, sau khi gây ra tai nạn b cáo cũng bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 68% nên phải đi điều trị và uống thuốc thường xuyên. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để cho bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.
[5] Về biện pháp tư pháp:
[5.1] Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại xe mô tô biển số 47M1 - 505.87 cho chủ sở hữu là bà Phạm Thị H và trả lại xe mô tô biển số 47H5 - 6235 bà H Nguyên Êñuôl là các chủ sở hữu.
Đối với phần hư hỏng của xe mô tô biển số 47M1 - 505.87 và xe mô tô biển số 47H5 - 6235, các chủ sở hữu không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết.
[5.2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 và 591 Bộ luật dân sự, Chấp nhận bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại Y Lập Ê số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), người đại diện hợp pháp của bị hại Y L Êñuôl đồng ý với số tiền trên và không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đức T (Tên gọi khác: Không) phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
[1] Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
- Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (04/9/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Đức T cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
[2] Về biện pháp tư pháp:
[2.1] Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại xe mô tô biển số 47M1 - 505.87 cho chủ sở hữu là bà Phạm Thị H và trả lại xe mô tô biển số 47H5 - 6235 bà H Nguyên Êñuôl là các chủ sở hữu.
[2.2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, 585, 586 và 591 Bộ luật dân sự. Chấp nhận bị cáo đã bồi thường cho gia đình người bị hại số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
[3] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đức T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về phần quyết định, bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về phần quyết định, bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Thành Tâm |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG PẮC, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Duc T phạm tội" Vi pham quy dinh ve tham gia giao thong duong bo"
