|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 41/2024/HNGĐ-ST Ngày 30-8-2024 V/v: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cao Thị Đào;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Minh
2. Ông Vũ Hùng Tuấn
Thư ký phiên toà: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST ngày 19/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Xuân C, sinh năm 1971 (Có mặt)
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1983 (Có mặt)
Đều ĐKHKTT tại: Đ P, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung đơn khởi kiện, tại bản tự khai, tại phiên toà nguyên đơn anh Nguyễn Xuân C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị L kết hôn với nhau ngày 29/7/2004, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn anh chị tìm hiểu dựa trên cơ sở tự nguyện không ai bị ép buộc. Hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục. Lúc đó anh đi làm xây dựng. Chị Lương học nghề cắt tóc. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống chung với bố anh ở tại đội 2 P, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng anh sống cùng bố anh tới năm 2005, bố anh mất và vợ chồng anh ở tại ngôi nhà của bố anh, đến năm 2015 anh chị làm nhà trên mảnh đất bố mẹ anh cho. Qúa trình vợ chồng chung sống cũng không được hòa thuận hạnh phúc, tới năm 2020 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm nuôi dạy con và chị có lời nói xúc phạm anh, vợ chồng thường xuyên sảy ra cãi nhau. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2020 tới nay ăn riêng, ở riêng, không quan tâm đến nhau. Nay anh xét thấy tình cảm của vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
Về con chung: Anh và chị L có 02 con chung là cháu Nguyễn Khương Duy Khánh L1, sinh 29/01/2005 và cháu Nguyễn Hoàng Gia Linh N sinh 18/11/2007. Hiện nay hai cháu vẫn ở cùng nhà với vợ chồng anh. Hiện nay cháu L1 đang học nghề tại trường đại học C1 năm thứ hai. Còn cháu N đang học lớp 12 trường C1. Khi ly hôn anh đề nghị được nuôi cháu Nguyễn Hoàng Gia Linh N, còn cháu Nguyễn Khương Duy Khánh L1 để chị L nuôi. Nếu hai cháu đều xin ở với anh, anh cũng nhất trí nuôi cả hai cháu và không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Về điều kiện kết hôn và thời gian kết hôn như anh C trình bày là đúng. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc một khoảng thời gian thì chồng chị có những biểu hiện lạ như là hay gọi điện tình tứ với những cuộc điện thoại dài với người khác nên chị nghi ngờ và ghen tuông và xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Biểu hiện của chồng chị đối với chị lạnh nhạt. Trong quá trình vợ chồng chung sống có giận dỗi nhưng vẫn sống chung một nhà. Quan điểm của chị trong lúc giận dỗi hờn ghen thì vợ chồng xảy ra cãi nhau, nhưng chị vẫn một lòng về con cái và chị không muốn việc ly hôn xảy ra để con cái khổ. Nay anh C làm đơn xin ly hôn quan điểm của chị không nhất trí ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung như anh C trình bày là đúng. Khi ly hôn hai con chung xin được ở với anh C chị nhất trí, anh C không yêu cầu chị cấp dưỡng nuôi con, chị đồng ý.
Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quan điểm của kiểm sát viên tại phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đã chấp hành đúng theo quy định pháp luật. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 của luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Xuân C,
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Xuân C được ly hôn chị Nguyễn Thị L.
- Về con chung: Cháu Nguyễn Khương Duy Khánh L1, sinh ngày 29/1/2005 đã trưởng thành không đặt ra xem xét giải quyết. Giao cháu Nguyễn Hoàng Gia Linh N sinh ngày 18/11/2007 cho anh Nguyễn Xuân C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung thành niên, lao động tự túc được. Chị L không phải cấp dưỡng nuôi cháu N do anh C không yêu cầu.
Chị L có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, công nợ chung, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Anh C phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng : Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Xuân C là đề nghị giải quyết ly hôn và con chung. Chị L ĐKHKTT tại Đội 2 P, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, nên yêu cầu khởi kiện của anh C thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về Nội Dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Xuân C tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 29/7/2004 tại UBND xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, đây là hôn nhân hợp pháp. Anh C và chị L đều xác nhận vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên sảy ra cãi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Nay anh C xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị L. Chị L không đồng ý ly hôn. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng anh C vẫn kiên quyết ly hôn. Tại bản tự khai chị L cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm và cách sống khác nhau, chị nghi ngờ anh C ngoại tình, không quan tâm đến chị.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương, chính quyền địa phương có cung cấp như sau: Quá trình chung sống vợ chồng anh C và chị L xảy ra nhiều mâu thuẫn từ lâu, chính quyền địa phương và khu dân cư đã hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Nay anh C xin ly hôn chị L chính quyền địa phương đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật
Xét thấy cuộc hôn nhân giữa Anh C và chị L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt, anh C đề nghị xin ly hôn với chị L là có căn cứ để chấp nhận nên xử cho anh C được ly hôn với chị L là phù hợp với Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình
[3] Về con chung: Anh C và chị L có 02 con chung là cháu Nguyễn Khương Duy Khánh L1, sinh ngày 29/01/2005 và cháu Nguyễn Hoàng Gia Linh N sinh ngày 18/11/2007. Cháu L1 hiện nay học năm thứ 2 tại trường đại học C1, còn cháu N học lớp 12 Cấp ba kỹ thuật V. Khi ly hôn các cháu đều muốn ở với anh C, anh C nhất trí và không yêu cầu chị L phải đóng góp nuôi con. Chị L nhất trí với quan điểm của anh C. Xét thấy hiện nay cháu L1 đã trên 18 tuổi cháu ở với ai là quyền của cháu, cháu L1 có khả năng lao động, do vậy không đặt ra xem xét giải quyết, còn cháu N hiện nay chưa đủ 18 tuổi cháu N xin ở với anh C, anh C và chị L cũng nhất trí để anh C nuôi cháu N. Do vậy cần giao cháu N cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu N trưởng thành và có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh C không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi cháu N, do vậy chị L không phải cấp dưỡng nuôi cháu N.
[4] Về tài sản chung, về nợ chung và công sức đóng góp: Anh C và chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Anh C phải chịu án 300.000đ án phí ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82, 83 của luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Xuân C.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Nguyễn Xuân C được ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
2. Về con chung: Cháu Nguyễn Khương Duy Khánh L1, sinh ngày 29/1/2005 đã trưởng thành không đặt ra xem xét giải quyết. Giao cháu Nguyễn Hoàng Gia Linh N sinh ngày 18/11/2007 cho anh Nguyễn Xuân C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung thành niên, lao động tự túc được. Chị L không phải cấp dưỡng nuôi cháu N do anh C không yêu cầu.
Chị L có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung, về vay nợ chung và công sức đóng góp: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Anh Nguyễn Xuân C phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh C đã nộp 300.000đ theo Biên lai thu tiền số 0005944 ngày 29/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9, 9a Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thị Đào |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh C xin ly hôn chị L
