|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày: 06/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Thanh Tùng.
Bà Phạm Thị Hương.
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Gia An, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Duẩn, Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Thạch S, sinh ngày 01/01/1998, tại V, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú: Khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Thạch X và bà Thạch Thị Chanh T; Có vợ là Sơn Thị Chanh Đ và có 02 người con; Tiền án: Không; tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/4/2024 và chuyển tạm giam đến nay; (Bị cáo có mặt).
- Đào Chanh N, sinh ngày 30/01/2000, tại V, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú: Khóm B, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Đào P và bà Kim Thị Sa K; Bị cáo chưa có vợ và con; Tiền án: Không; tiền sự: 01; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/4/2024 và chuyển tạm giam đến nay; (Bị cáo có mặt).
Người bào chữa cho các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N: Ông Lý B – Luật sư thực hiện trợ giúp viên pháp lý Nhà nước thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Huỳnh Thị Hồng G, sinh năm 2004. Nơi cư trú: Ấp N, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt).
Người làm chứng: Sơn Thị Chanh Đ, sinh năm 2000. Nơi cư trú: Khóm S, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt).
Người phiên dịch tiếng Khmer: Ông Lâm Diệp P1, nguyên là cán bộ nghỉ hưu Phường A, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 20 phút ngày 10/4/2024, tại ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng, Đồn Biên phòng L, thị xã V tiến hành lập biên bản bắt quả tang bị cáo Đào Chanh N có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ tại hiện trường gồm: 01 bịch ma túy (gói số 01); 01 xe mô tô biển số 83VK- 001.35 và điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng đồng có sim số 0939087159. Bị cáo Đào Chanh N khai nhận 01 bịch ma túy nêu trên là của bị cáo Thạch S mua và đưa cho bị cáo Đào Chanh N đem về sử dụng.
Sau đó, lực lượng Đồn biên phòng L, thị xã V tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của bị cáo Thạch S thuộc khóm S, phường V, thị xã V thu giữ 02 bịch ma túy cất giấu trong cục gạch ống (gói số 02) và 01 bịch ma túy cất giấu trong chòi nuôi tôm (gói số 03); 05 bộ sử dụng ma túy (nỏ) và các vật chứng có liên quan khác. Toàn bộ số ma túy (lúc mua 13 bịch) nêu trên là của bị cáo Thạch S đi xe khách lên thành phố Hồ Chí Minh mua của người đàn ông lạ mặt vào ngày 06/4/2024 với giá 2.200.000 đồng đem về cất giấu trong nhà mục đích là sử dụng.
- Tại Kết luận giám định số: 55/KLMT-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K1 thuộc Công an tỉnh S kết luận:
+ Gói 01: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2646 gam, loại Methamphetamine.
+ Gói 02: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1768 gam, loại Methamphetamine.
+ Gói 03: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,4280 gam, loại Methamphetamine.
Tổng cộng 03 gói có khối lượng là 1,7874 gam loại Methamphetamine.
- Tại cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
- Tại Cáo trạng số: 48/CT-VKSVC ngày 10/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu đã truy tố các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Xét thấy, các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích là để sử dụng. Do vậy, hành vi của các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có bàn bạc, phân công vai trò chặt chẽ, nên vai trò của các bị cáo không thuộc trường hợp có tổ chức mà thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố: Các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào:
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo Thạch S mức án từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), đề nghị xử phạt bị cáo Đào Chanh N mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
+ Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ Tuật tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng: 1,7874 gam mẫu tinh thể màu trắng và võ bao gói còn lại sau giám định, được niêm phong gói 1, gói 2, gói 3 bên ngoài có ghi “niêm phong” vụ số 55/2024 ngày 16/4/2024 ; 01 cân tiểu ly màu đen trắng; 05 ống thủy tinh có dạng hình phễu nỏ)
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng, bị vỡ màn hình, loại cảm ứng, đã qua sử dụng, do có liên quan đến hành vi phạm tội.
- Trả lại cho bị cáo Đào Chanh N : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng đồng loại cảm ứng đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo N.
- Trả cho Huỳnh Thị Hồng G: 01 xe mô tô biển số 83VK- 001.35 là người quản lý hợp pháp, do không biết bị cáo Đào Chanh N sử dụng làm phương tiện phạm tội.
Theo Phiếu nhập kho số: NK58 ngày 11/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.
- Tại phiên tòa, người bào chữa cho các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N trình bày: Thống nhất với Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và các tình tiết giảm nhẹ hình phạt áp dụng đối với các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N. Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Về án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị miễn cho các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N.
- Tại phiên tòa, các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N trình bày: Các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố; thống nhất ý kiến đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát và ý kiến của người bào chữa. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và xin miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Tại cơ quan điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Huỳnh Thị Hồng G trình bày: Chị Huỳnh Thị Hồng G trình bày chiếc xe mô tô biển số 83VK- 001.35 là của chị G mua và là người sở hữu hợp pháp. Việc bị cáo Đào Chanh N sử dụng chiếc xe nêu trên làm phương tiện phạm tội chị G không biết. Chị Huỳnh Thị Hồng G xin được nhận lại chiếc xe nêu trên để làm phương tiện phục vụ gia đình.
- Tại cơ quan điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Sơn Thị Chanh Đ trình bày: Việc bị cáo Thạch S mua ma túy về cất giấu trong nhà để sử dụng chị Sơn Thị Chanh Đ không biết. Khi Đồn Biên phòng L, thị xã V bắt quả tang chị Đ mới biết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã V, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng minh và chứng cứ: Xét thấy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã V đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 85, 86, 87, 88, 89, 90, 94, 98, 100, 102, 104, 105, 106, 108 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan Huỳnh Thị Hồng G vắng mặt. Tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa và vị đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên. Xét thấy sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
[4] Tại phiên tòa, các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N đều thừa nhận: Vào ngày 06/4/2024 bị cáo Thạch S đi xe khách lên thành phố Hồ Chí Minh gặp người đàn ông lạ mặt mua 13 bịch ma túy với giá 2.200.000 đồng đem về cất giấu trong nhà mục đích là để sử dụng. Đến khoảng 13 giờ 20 phút ngày 10/4/2024 bị cáo Thạch S lấy 01 bịch ma túy đưa cho bị cáo Đào Chanh N đem về sử dụng. Khi bị cáo N mang ma túy về đến ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng thì bị Đồn biên phòng L, thị xã V kiểm tra và lập biên bản quả tang. Sau đó Đồn biên phòng L, thị xã V tiến hành khám xét tại nhà của bị cáo Thạch S thu giữ 12 bịch ma túy còn lại. Xét lời nhận tội của các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N là phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 10/4/2024, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ tại hiện trường; biên bản khám nghiệm hiện trường; Kết luận giám định số: 55/KLMT-KTHS ngày 16/4/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, hành vi của các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng ma túy là 1,8694 gam loại Methamphetamine. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2017): “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:... c) Heroine, C, Methamphetamine....có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Như vậy, đối chiếu với quy định nêu trên thì hành vi phạm tội của các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N đã thỏa mãn quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N không có bàn bạc, phân công vai trò chặt chẽ, nhưng có sự thống nhất ý chí trong việc thực hiện hành vi mua ma túy về mục đích là để sử dụng. Do vậy, vai trò của các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức mà phạm tội thuộc trường Đ1 đều là người thực hành.
[5] Do có hành vi phạm tội nêu trên, xét thấy, Cáo trạng số: 48/CT-VKSVC ngày 10/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu truy tố các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho các bị cáo.
[6] Động cơ phạm tội của các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N là nhằm mục đích mua ma túy về sử dụng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân của mình. Ý thức chủ quan của các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và gây hậu quả thuộc trường hợp nghiêm trọng.
[7] Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo nhận thức được rằng việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi mua ma túy về cất giấu để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân của mình. Hiện nay, trên địa bàn thị xã V tội phạm ma túy ngày càng gia tăng và gây bức xúc trong dư luận xã hội. Do đó, đối với các bị cáo cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, mục đích nhằm để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, về hình phạt bổ sung: Xét thấy, hoàn cảnh gia đình của các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N khó khăn, thuộc đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là thể hiện tính khoan hồng của Nhà nước đối với các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N.
[8] Để cá thể hóa hình phạt nên cần xem xét đánh giá hành vi phạm tội của từng bị cáo như sau:
[8.1] Đối với bị cáo Thạch S là người giữ vai trò chính trong vụ án và bị cáo là người trực tiếp đi thành phố Hồ Chí Minh mua 13 bịch ma túy về cất giấu trong nhà để sử dụng. Sau đó, lấy 01 bịch túy đưa cho bị cáo Đào Chanh N đem về sử dụng thì bị lực lượng Đồn biên phòng L, thị xã V bắt quả tang và khám xét tại nhà của bị cáo Thạch S thu giữ 12 bịch ma túy còn lại. Xét thấy, hành vi của bị cáo Thạch S là rất nguy hiểm cho xã hội, cần phải có một mức án nghiêm khắc hơn đối với bị cáo Đào Chanh N, mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, mục đích nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[8.2] Đối với bị cáo Đào Chanh N cũng là đồng phạm rất tích cực trong vụ án. Khi bị cáo Thạch S đưa 01 bịch ma túy đem về sử dụng là bị cáo N đồng ý nhận ngay và cất giấu trong người trên đường về nhà thì bị Đồn biên phòng L kiểm tra bắt quả tang. Xét thấy, hành vi của bị cáo Đào Chanh N cũng rất nguy hiểm cho xã hội và cũng cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm để làm gương cho người khác và phòng ngừa chung cho xã hội.
[9] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[10] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N có thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình; các bị cáo là người dân tộc Khmer nên nhận thức pháp luật cũng còn hạn chế; Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
[11] Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Thạch S do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể, nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã V chưa làm việc được. Đề nghị cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
[12] Đối với hành vi tàng trữ 05 dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, do không đủ định lượng, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V không khởi tố bị cáo Thạch S về tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 254 của Bộ luật Hình sự(sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng quy định của pháp luật.
[13] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng: 1,7874 gam mẫu tinh thể màu trắng và vỏ bao gói còn lại sau giám định, được niêm phong gói 1, gói 2, gói 3 bên ngoài có ghi “niêm phong” vụ số 55/2024 ngày 16/4/2024 ; 01 cân tiểu ly màu đen trắng; 05 ống thủy tinh có dạng hình phễu (nỏ)
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng, bị vỡ màn hình, loại cảm ứng, đã qua sử dụng, do có liên quan đến hành vi phạm tội.
- Trả lại cho bị cáo Đào Chanh N : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng đồng loại cảm ứng đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo N.
- Trả cho Huỳnh Thị Hồng G: 01 xe mô tô biển số 83VK- 001.35 là người quản lý hợp pháp, do không biết bị cáo Đào Chanh N sử dụng làm phương tiện phạm tội.
Theo Phiếu nhập kho số: NK58 ngày 11/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.
[14] Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy, các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N thuộc đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên tòa các bị cáo xin miễn án phí. Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo Thạch S và Đào Chanh N được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
[15] Tại phiên tòa, xét thấy đề nghị của vị Kiểm sát viên là có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[16] Tại phiên tòa, xét thấy đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Thạch S và Đào Chanh N thống nhất về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ và xin miễn án phí đối với bị cáo Thạch S và Đào Chanh N là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Xét thấy, hiện nay tội phạm về ma túy ngày càng gia tăng, do đó người bào chữa đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo là chưa đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào:
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; khoản 1 Điều 38; Điều 50, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên xử:
- Xử phạt bị cáo Thạch S: 02 (hai) năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 10/4/2024.
- Xử phạt bị cáo Đào Chanh N: 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 10/4/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng: 1,7874 gam mẫu tinh thể màu trắng và vỏ bao gói còn lại sau giám định, được niêm phong gói 1, gói 2, gói 3 bên ngoài có ghi “niêm phong” vụ số 55/2024 ngày 16/4/2024 ; 01 cân tiểu ly màu đen trắng; 05 ống thủy tinh có dạng hình phễu (nỏ)
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng đồng, bị vỡ màn hình, loại cảm ứng, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho bị cáo Đào Chanh N : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu vàng đồng loại cảm ứng đã qua sử dụng.
- - Trả cho Huỳnh Thị Hồng G: 01 xe mô tô biển số 83VK- 001.35 là người quản lý hợp pháp.
Theo Phiếu nhập kho số: NK58 ngày 11/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo Thạch S và Đào Chanh N được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vũ Phương |
10
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HS Sư - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
