Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày 11 – 7 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Thẩm phán: Ông Bùi Minh Thư

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Văn Hồng

  2. Ông Nguyễn Thái Linh

  3. Ông Phạm Thành

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Soan là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thanh Hoa là Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST- HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 34/2024/HSST-QĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 39/2024/HSST-QĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Hoàng Thị T; tên gọi khác: không; giới tính: Nữ; sinh ngày 20 tháng 02 năm 1985 tại xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Giáo viên trường Mầm non L, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; đoàn thể, Đảng phái: Đảng viên Đ (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng); con ông: Hoàng H và con bà Nguyễn Thị V (đều đã mất); chồng: Nguyễn Văn X, sinh năm 1974; con: 04 con (lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2021); hiện trú tại thôn T, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; anh, chị em ruột: Có 5 người, bị cáo là con thứ 5;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/7/2023 tại xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.

Bị cáo có mặt tại phiên toà

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Văn T1, sinh năm 1960 – Luật sư Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh H; địa chỉ: Số C, Đường N, Phường N, Thành phố H, Hà Tĩnh. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị hại:

  1. Ông Phạm Ngọc C, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

  2. Bà Cao Thị B, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

  3. Ông Bùi Đức N, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn X, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn T, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

  2. Anh Quan Ngọc V1, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

  3. Ông Trần Hậu T2, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

  4. Chị Phạm Thị Kim C1, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

  5. Chị Phạm Thị T3, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt

  6. Anh Phạm T4, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

  7. Chị Bùi Phương D, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn H, tỉnh Hà Tĩnh; nơi ở hiện tại: Tòa C V, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

  2. Bà Nguyễn Thị V2, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

  3. Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn E, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

  4. Bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

  5. Chị Hoàng Thị H, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Thị T là giáo viên trường Mầm non L, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên mặc dù không có chức năng, khả năng xin việc làm nhưng Hoàng Thị T đã đưa ra các thông tin không đúng sự thật như: Có mối quan hệ quen biết với nhiều người và có thể xin được vào làm việc chính thức tại Phòng Nội vụ, Phòng tài nguyên, môi trường huyện H, bệnh viện đa khoa tỉnh H, giáo viên mầm non của các trường trên địa bàn và vùng lân cận... với mức chi phí từ 150.000.000 đồng đến 240.000.000 đồng để những người có nhu cầu xin việc làm tin tưởng giao tiền rồi chiếm đoạt tiền của họ. Bằng thủ đoạn gian dối nêu trên, từ tháng 4/2015 đến tháng 5/2022, Hoàng Thị T đã chiếm đoạt của 03 người bị hại trên địa bàn huyện H, tỉnh Hà Tĩnh với tổng số tiền 690.000.000 đồng. Đến khoảng tháng 3/2023, Hoàng Thị T còn có hành vi đặt mua để sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, đến Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á phòng giao dịch huyện H (địa chỉ tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) để hỏi làm thủ tục thế chấp vay 100.000.000 đồng thì bị phát hiện, khởi tố điều tra. Cụ thể như sau:

1. Về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

1.1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 240.000.000 đồng của ông Phạm Ngọc C (sinh năm 1975, trú tại thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh).

Vào khoảng tháng 8/2019, thông qua các mối quan hệ xã hội, ông Phạm Ngọc C gọi điện thoại cho Hoàng Thị T đặt vấn đề nhờ T xin việc làm cho chị Phạm Thị Kim C1 (sinh năm 1998, trú tại thôn H, xã H, huyện H, là con gái của ông C, đã tốt nghiệp Cao đẳng y tế Hà Nội nhưng chưa có việc làm). Sau đó, T đưa ra thông tin gian dối lừa ông C về việc xin được cho chị C1 vào làm việc chính thức tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H với chi phí là 240.000.000 đồng. T cam kết trong thời gian từ 03 tháng đến 06 tháng sẽ xin được việc cho chị C1, nếu không xin được sẽ trả lại tiền. Tin tưởng thông tin T đưa ra, ngày 07/10/2019, ông C đã giao cho T 240.000.000 đồng tại nhà T ở thôn T, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, T viết giấy nhận tiền và hứa hẹn thực hiện đúng cam kết. Đến giữa năm 2020, quá thời hạn cam kết T không xin được việc làm cho chị C1 nên ông Phạm Ngọc C đã nhiều lần yêu cầu Tuyết trả lại tiền nhưng T vẫn không trả cho ông C.

Như vậy, Hoàng Thị T đã lừa đảo chiếm đoạt của ông Phạm Ngọc C số tiền 240.000.000 đồng để chi tiêu cá nhân. Hiện nay, ông Phạm Ngọc C yêu cầu bị cáo Hoàng Thị T bồi thường số tiền 240.000.000 đồng nhưng T chưa bồi thường cho ông C.

1.2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 300.000.000 đồng của bà Cao Thị B (sinh năm 1962, trú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh).

Trong quá trình điều tra, bị cáo Hoàng Thị T khai nhận 02 lần lừa đảo chiếm đoạt tổng số tiền 300.000.000 đồng của bà Cao Thị B. Cụ thể:

- Lần thứ nhất: Tháng 4/2015, thông qua các mối quan hệ xã hội, bà Cao Thị B biết Hoàng Thị T có khả năng xin được việc làm nên bà B đã liên lạc với Hoàng Thị T đặt vấn đề nhờ T xin việc cho chị Phạm Thị T3 (sinh năm 1994, trú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, là con gái bà B, đã tốt nghiệp Trường T9 nhưng chưa có việc làm). Sau đó, T đưa ra thông tin gian dối lừa bà B về việc xin được cho chị T3 vào biên chế chính thức tại trường Mầm non trên địa bàn huyện H, tỉnh Hà Tĩnh với chi phí là 150.000.000 đồng. Tuyết cam kết trong thời hạn 01 năm sẽ xin được việc cho chị T3, nếu không xin được sẽ trả lại tiền. Tin tưởng thông tin T đưa ra, bà Cao Thị B đã 02 lần đưa cho Hoàng Thị T tổng số tiền 150.000.000 đồng tại nhà T ở thôn T, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (cuối tháng 4/2015 giao số tiền 60.000.000 đồng, ngày 3/5/2015 giao số tiền 90.000.000 đồng), T viết giấy nhận tiền và hứa hẹn thực hiện đúng cam kết. Sau đó Hoàng Thị T hướng dẫn chị Phạm Thị T3 nộp hồ sơ dự tuyển vào biên chế giáo viên do UBND huyện H tổ chức năm 2015, kết quả chị Phạm Thị T3 không trúng tuyển.

- Lần thứ hai: Tháng 8/2020, bà Cao Thị B tiếp tục gặp Hoàng Thị T đặt vấn đề nhờ T xin việc làm cho anh Phạm T4 (sinh năm 1997, trú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, là con trai của bà B, đã tốt nghiệp trường Đại học V5 nhưng chưa có việc làm). Sau đó, T đưa ra thông tin gian dối lừa bà B về việc xin được cho anh T4 vào làm việc chính thức tại Phòng Tài nguyên và môi trường huyện H hoặc Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh H với chi phí là 150.000.000 đồng. Cam kết trong thời hạn 1 năm sẽ xin được việc cho anh T4, nếu không xin được sẽ trả lại tiền. Tin tưởng thông tin T đưa ra, bà B đã 02 lần đưa cho T tổng số tiền 150.000.000 đồng tại nhà T ở thôn T, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (ngày 08/8/2020 giao nhận số tiền 120.000.000 đồng, ngày 10/8/2020 giao nhận số tiền 30.000.000 đồng), T viết giấy nhận tiền và hứa hẹn thực hiện đúng cam kết. Đến cuối năm 2022, quá thời hạn cam kết nhưng T không xin được việc làm cho chị T3 và anh T4, bà Cao Thị B đã nhiều lần yêu cầu T trả lại tiền, đến ngày 23/3/2023, T trả cho bà B số tiền 70.000.000 đồng.

Như vậy, Hoàng Thị T đã lừa đảo chiếm đoạt của bà Cao Thị B tổng số tiền 300.000.000 đồng để chi tiêu cá nhân. Hiện nay, bà Cao Thị B yêu cầu bị cáo Hoàng Thị T bồi thường số tiền 230.000.000 đồng nhưng T chưa bồi thường cho bà B.

1.3. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 150.000.000 đồng của ông Bùi Đức N (sinh năm 1962, trú tại tổ dân phố D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh).

Khoảng tháng 10/2020, thông qua các mối quan hệ xã hội, ông Bùi Đức N đặt vấn đề nhờ Hoàng Thị T xin việc làm cho chị Bùi Phương D (sinh năm 1995, trú tại tổ dân phố D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, là con gái của ông N, đã tốt nghiệp Học viện H1 nhưng chưa có việc làm). Sau đó, T đưa ra thông tin gian dối lừa ông N về việc xin được cho chị D vào biên chế chính thức tại cơ quan ở tỉnh hoặc tại Phòng Nội vụ huyện H với chi phí là 300.000.000 đồng, T yêu cầu đặt cọc trước 100.000.000 đồng, số còn lại nếu xin được việc thì mới nhận. Cam kết trong

thời hạn 01 năm sẽ xin được việc cho chị D, nếu không xin được sẽ trả lại tiền. Tin tưởng thông tin T đưa ra, ngày 22/11/2020 ông N đã đưa cho T số tiền 100.000.000 đồng tại nhà của ông N. Quá thời hạn cam kết, ông Bùi Đức N đến hỏi thì T trả lời do dịch bệnh nên chưa tổ chức thi tuyển được và tiếp tục yêu cầu ông N đưa thêm số tiền 50.000.000 đồng. Ngày 17/5/2022 ông N đã đưa tiếp cho T số tiền 50.000.000 đồng, T viết giấy nhận tiền và hứa hẹn thực hiện đúng cam kết. Đến tháng 10/2023, T vẫn không xin được việc làm cho chị D nên ông Bùi Đức N đã nhiều lần yêu cầu T trả lại tiền và T đã trả lại cho ông N số tiền 5.000.000 đồng.

Như vậy, Hoàng Thị T đã lừa đảo chiếm đoạt của ông Bùi Đức N số tiền 150.000.000 đồng để chi tiêu cá nhân. Hiện nay, ông Bùi Đức N yêu cầu bị cáo Hoàng Thị T bồi thường số tiền 145.000.000 đồng nhưng T chưa bồi thường cho ông N.

Như vậy từ tháng 4/2015 đến tháng 5/2022 Hoàng Thị T đã nhiều lần đưa ra các thông tin không đúng sự thật về việc có thể xin cho những người có nhu cầu vào làm việc chính thức tại một số cơ quan, tổ chức trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh để lừa đảo chiếm đoạt của 03 người bị hại với tổng số tiền 690.000.000 đồng, trong đó: Chiếm đoạt của ông Phạm Ngọc C (sinh năm 1975, trú tại thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) số tiền 240.000.000 đồng, chiếm đoạt của bà Cao Thị B (sinh năm 1962, trú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) số tiền 300.000.000 đồng, chiếm đoạt của ông Bùi Đức N (sinh năm 1962, trú tại tổ dân phố D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) số tiền 150.000.000 đồng. Đến nay Hoàng Thị T đã trả lại cho bà Cao Thị B 70.000.000 đồng, ông Bùi Đức N 5.000.000 đồng.

2. Về hành vi Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức:

Khoảng giữa tháng 02/2023, do cần tiền để kinh doanh nên Hoàng Thị T nảy sinh ý định làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả ghi là đất ở đối với thửa đất số 248, tờ bản đồ số 49, diện tích 300m² tại thôn P, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh để thế chấp vay tiền tại Ngân hàng (thửa đất này của vợ chồng Hoàng Thị T đã được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CĐ251085 ngày 30/12/2016 với mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm) với ý thức là sẽ trả nợ theo hợp đồng nếu được cho vay. T truy cập internet, đăng nhập tài khoản Facebook cá nhân “H” và vào trang Facebook “Dịch vụ làm giấy tờ nhanh” đặt vấn đề làm giả giấy tờ thì được hướng dẫn kết bạn với tài khoản Zalo “Trung tâm đào tạo, dạy nghề” để trao đổi thực hiện. Sau đó, T đã sử dụng tài khoản Z “Minh Đức” đăng ký bằng số điện thoại 0984.226.xxx của T liên lạc với tài khoản Zalo “Trung tâm đào tạo, dạy nghề” đặt làm giả 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên vợ chồng T là anh Nguyễn Văn X, sinh năm 1974 và Hoàng Thị T, sinh năm 1985. Hoàng Thị T cung cấp thông tin cá nhân, thông tin thửa đất số 248, tờ bản đồ số 49, diện tích 300m² tại thôn P, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh là đất trồng cây lâu năm của vợ chồng T để làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả thành đất ở với chi phí là 6.000.000 đồng. Đến khoảng cuối tháng 02/2023 (không nhớ rõ ngày), T nhận

được cuộc gọi của một người đàn ông từ ứng dụng Facebook hẹn đi đến khu vực Trường tiểu học thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh để nhận hàng. Sau đó, T đến điểm hẹn và nhận từ một nam thanh niên (không rõ thông tin, địa chỉ) 01 gói hàng màu đen, bên trong là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả, T thanh toán 6.000.000 đồng tiền mặt rồi đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả về nhà cất giấu. Đến giữa tháng 3/2023, T đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đến Ngân hàng thương mại cổ phần B - Phòng giao dịch huyện H (tại số C, đường T, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) để xuất trình làm hồ sơ thế chấp vay số tiền 100.000.000 đồng. Anh Quan Ngọc V1 (sinh năm 1993, trú tại tổ dân phố B, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh là nhân viên Ngân hàng) đã dùng điện thoại di động chụp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà T đưa đến để kiểm tra. Trong quá trình kiểm tra thông tin về tài sản để xem xét việc xây dựng hồ sơ cho vay tiền, anh V1 xác minh và thấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Hoàng Thị T là giả nên đã từ chối việc xây dựng hồ sơ cho T vay tiền tại Ngân hàng thương mại cổ phần B. Nhận thấy sự việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật nên ngày 24/4/2023, anh Quan Ngọc V1 trình báo Cơ quan CSĐT Công an huyện H và Hoàng Thị T đã khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Bản kết luận giám định số 486 ngày 16/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Mẫu phôi trên mẫu cần giám định so với mẫu phôi trên các mẫu so sánh không cùng một loại phôi; Hình dấu tròn có nội dung "UỶ BAN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ T. HÀ TĨNH" trên mẫu cần giám định không phải là hình dấu đóng trực tiếp; Chữ ký đề tên ông Nguyễn Văn V3 trên mẫu cần giám định là chữ ký trực tiếp, so với chữ ký của ông Nguyễn Văn V3 trên các mẫu so sánh không phải do cùng một người ký ra.

Bản kết luận giám định số 734 ngày 08/8/2023, số 901 ngày 04/10/2023, số 91 ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: chữ viết, chữ ký có nội dung liên quan đến nhận tiền trên các giấy nhận tiền, giấy vay tiền, giấy hẹn, giấy hẹn trả nợ, giấy xin gia hạn - khất nợ tiền vay (trừ phần chữ ký, chữ viết dưới mục "Người giao tiền", "Bên cho vay", "Người làm chứng") là chữ viết, chữ ký của Hoàng Thị Tuyết .

Như vậy vào tháng 3/2023, Hoàng Thị T đã có hành vi đặt mua của một người đàn ông (không rõ thông tin, địa chỉ) trên mạng xã hội 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên Hoàng Thị T và Nguyễn Văn X để làm thủ tục thế chấp tại Ngân hàng thương mại cổ phần B, Phòng G vay khoản tiền 100.000.000 đồng. Tuy nhiên trong quá trình kiểm tra thông tin về tài sản thế chấp để xem xét lập hồ sơ cho vay tiền thì bị nhân viên ngân hàng phát hiện và trình báo đến Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh điều tra, xử lý theo pháp luật.

* Vật chứng đã thu giữ và xử lý:

- Thu giữ từ bị cáo Hoàng Thị T: 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 151085, diện tích 300,0m², chủ sở hữu ông Nguyễn Văn X (sinh năm 1974) và bà Hoàng Thị T (sinh năm 1985)

đối với thửa đất số 248, tờ bản đồ số 49, địa chỉ tại thôn T, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả do Hoàng Thị T đặt mua).

- Thu giữ từ những người bị hại:

  • + 01 (một) Giấy nhận tiền, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 07/10/2019.

  • + 01 (một) Giấy hẹn, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 11/5/2022.

  • + 01 (một) Giấy vay tiền, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 08/02/2023.

  • + 01 (một) Giấy nhận tiền, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 03/5/2015.

  • + 01 (một) Giấy nhận tiền, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 8/8/2020.

  • + 01 (một) Giấy hẹn trả nợ, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 29/03/2023.

  • + 01 (một) Giấy hẹn trả nợ, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 17/5/2023.

  • + 01 (một) Giấy vay tiền, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 22/11/2020.

  • + 01 (một) Giấy vay tiền, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 17/5/2022.

  • + 01 (một) Giấy xin gia hạn - khất trả nợ tiền vay, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 20/9/2023.

Với hành vi nêu trên, tại bản Cáo trạng số: 28/CT-VKS-P2 ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Hoàng Thị T “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi phân tích đánh giá các tình tiết của vụ án, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

a) Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm n, r, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thị T từ 09 năm tù đến 10 năm tù về tội " Lừa đảo chiếm đoạt tài sản". Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 09 đến 12 tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Hoàng Thị T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 09 năm 09 tháng đến 11 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

b) Về dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Hoàng Thị T bồi thường cho các bị hại, cụ thể: Bồi thường cho ông Phạm Ngọc C số tiền 240.000.000 đồng; bồi thường

cho bà Cao Thị B số tiền 230.000.000 đồng; bồi thường cho ông Bùi Đức N số tiền 145.000.000 đồng.

Đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo, người bị hại cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vắng mặt Luật sư bào chữa cho bị cáo.Tuy nhiên, xét thấy Luật sư bào chữa cho bị cáo có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và có bản Luận cứ bào chữa cho bị cáo gửi cho Hội đồng xét xử; đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt không có lý do, nhưng Tòa án đã tiến hành tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ. Xét đây là phiên tòa mở lần thứ ba, tại phiên tòa những người tham gia tố tụng có mặt và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đều đề nghị Hội đồng tiếp tục xét xử vụ án, việc vắng mặt của những người tham gia tố tụng không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Vì vậy, căn cứ Điều 291, Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo

[2.1] Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai phạm tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp lời khai có tại hồ sơ, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định:

Do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nhân, nên trong khoảng thời gian từ tháng 4/2015 đến tháng 5/2022 Hoàng Thị T đã nhiều lần đưa ra các thông tin không đúng sự thật về việc có thể xin cho những người có nhu cầu vào làm việc chính

thức tại một số cơ quan, tổ chức trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh để lừa đảo chiếm đoạt của 03 người bị hại với tổng số tiền 690.000.000 đồng, trong đó: Chiếm đoạt của ông Phạm Ngọc C (sinh năm 1975, trú tại thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) số tiền 240.000.000 đồng, chiếm đoạt của bà Cao Thị B (sinh năm 1962, trú tại thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) số tiền 300.000.000 đồng, chiếm đoạt của ông Bùi Đức N (sinh năm 1962, trú tại tổ dân phố D, thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh) số tiền 150.000.000 đồng. Đến nay Hoàng Thị T đã trả lại cho bà Cao Thị B 70.000.000 đồng, ông Bùi Đức N 5.000.000 đồng.

Ngoài ra tháng 3/2023, Hoàng Thị T đã có hành vi đặt mua của một người đàn ông (không rõ thông tin, địa chỉ) trên mạng xã hội 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả mang tên Hoàng Thị T và Nguyễn Văn X để làm thủ tục thế chấp tại Ngân hàng thương mại cổ phần B, Phòng G vay khoản tiền 100.000.000 đồng. Tuy nhiên trong quá trình kiểm tra thông tin về tài sản thế chấp để xem xét lập hồ sơ cho vay tiền thì bị nhân viên ngân hàng phát hiện.

Như vậy hành vi dùng thủ đoạn gian dối đưa ra các thông tin sai sự thật để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của 03 bị hại với số tiền 690.000.000 đồng của Hoàng Thị T và hành vi sử dụng giấy tờ giả để làm thủ tục thế chấp tại Ngân hàng để vay tiền của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.

Vì vậy Cáo trạng số: 28/CT-VKS-P2 ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Hoàng Thị T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2.2] Tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Bị cáo T là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc đưa ra các thông tin gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạp pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, gây thiệt hại về kinh tế đối với các bị hại, đồng thời làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, tật tự tại địa phương. Ngoài ra hành vi sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức của bị cáo còn xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường và uy tín của cơ quan nhà nước vì vậy cần phải có mức án phù hợp đối với bị cáo đối với 02 hành vi phạm tội nêu trên.

[2.3] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội là phụ nữ có thai (khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với ông Phạm Ngọc C, bị cáo đang mang thai con

thứ 3 ở tháng thứ 4); tự thú (đối với hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà Cao Thị B); thành khẩn khai báo; người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong công tác (năm 2015 đạt danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cơ sở”, năm 2015, 2019, 2021 đạt danh hiệu “Giáo viên dạy giỏi”); tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho người bị hại; bố mẹ chồng của bị cáo (ông Nguyễn Văn T7 và bà Nguyễn Thị T8) được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, mẹ bị cáo (bà Nguyễn Thị V4) đã có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến được hưởng chế độ theo Quyết định số 49/2015/QĐ-TTg ngày 14/10/2015 của Thủ tướng chính phủ, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n, r, s, v khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[3] Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo Hoàng Thị T đã lừa đảo chiếm đoạt của 03 bị hại, với tổng số tiền 690.000.000 đồng. Đến nay bị cáo Hoàng Thị T đã trả lại cho bà Cao Thị B 70.000.000 đồng, ông Bùi Đức N 5.000.000 đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo Hoàng Thị T có nghĩa vụ bồi thường số tiền còn lại đã chiếm đoạt từ các bị hại cụ thể: Bồi thường cho ông Phạm Ngọc C số tiền 240.000.000 đồng; bồi thường cho bà Cao Thị B số tiền 230.000.000 đồng; bồi thường cho ông Bùi Đức N số tiền 145.000.000 đồng.

[4] Về xử lý vật chứng:

+ 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ 151085, diện tích 300,0m², chủ sở hữu ông Nguyễn Văn X (sinh năm 1974) và bà Hoàng Thị T (sinh năm 1985) đối với thửa đất số 248, tờ bản đồ số 49, địa chỉ tại thôn T, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh (là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả do Hoàng Thị T đặt mua).

+ 01 (một) Giấy nhận tiền, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 07/10/2019.

+ 01 (một) Giấy hẹn, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 11/5/2022.

+ 01 (một) Giấy vay tiền, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 08/02/2023.

+ 01 (một) Giấy nhận tiền, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 03/5/2015.

+ 01 (một) Giấy nhận tiền, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 8/8/2020.

+ 01 (một) Giấy hẹn trả nợ, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 29/03/2023.

+ 01 (một) Giấy hẹn trả nợ, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 17/5/2023.

+ 01 (một) Giấy vay tiền, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 22/11/2020.

+ 01 (một) Giấy vay tiền, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 17/5/2022.

+ 01 (một) Giấy xin gia hạn - khất trả nợ tiền vay, đề tên Hoàng Thị T, đề ngày 20/9/2023.

Tiếp tục lưu cùng hồ sơ vụ án.

[5] Về những nội dung, hành vi có liên quan trong vụ án:

- Đối với hành vi Hoàng Thị T đặt làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thông qua trang mạng xã hội vào khoảng tháng 02/2023: Quá trình điều tra không xác định được đối tượng làm giả và đối tượng giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho T. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý trách nhiệm của các đối tượng về hành vi làm giả tài liệu liên quan là có căn cứ.

- Đối với hành vi của Hoàng Thị T sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để hỏi làm thủ tục vay số tiền 100.000.000 đồng tại Ngân hàng B, phòng G (địa chỉ tại thị trấn H, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh): Hành vi này của T đã bị phát hiện trong quá trình nhân viên ngân hàng kiểm tra, xác minh nên chưa thực hiện việc lập hồ sơ cho vay. Do đó, không đủ căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với Hoàng Thị T về hành vi lừa đảo chiếm đoạt 100.000.000 đồng của Ngân hàng là có cơ sở.

- Quá trình điều tra, bị cáo Hoàng Thị T khai, sau khi nhận tiền của ông Phạm Ngọc C, T đã đưa cho ông Trần Hậu T2 (sinh năm 1962, trú tại tổ dân phố D, phường T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh) số tiền 240.000.000 đồng để nhờ ông T2 xin việc cho chị Phạm Thị Kim C1. Tuy nhiên, Hoàng Thị T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc T giao tiền cho ông T2. Quá trình lấy lời khai, đối chất, ông Trần Hậu T2 không thừa nhận có sự việc như trên và cho rằng Hoàng Thị T khai báo không đúng sự thật. Do đó, không có căn cứ xử lý trách nhiệm đối với ông Trần Hậu T2 là có cơ sở.

[6] Về án phí: Bị cáo Hoàng Thị T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Thị T phạm tội “ Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm n, r, s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 09 (chín) năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

- Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị

cáo Hoàng Thị T phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, 586, Điều 589 Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Hoàng Thị T có nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại số tiền 615.000.000 đồng (Sáu trăm mười lăm triệu đồng), cụ thể như sau: Bồi thường cho Bồi thường cho ông Phạm Ngọc C số tiền 240.000.000 đồng (Hai trăm bốn mươi triệu đồng); bồi thường cho bà Cao Thị B số tiền 230.000.000 đồng (Hai

trăm ba mươi triệu đồng); bồi thường cho ông Bùi Đức N số tiền 145.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu đồng).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Sau khi án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu trả lãi đối với số tiền chạm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 21, Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án

Buộc bị cáo Hoàng Thị T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 28.600.000 (Hai mươi tám triệu sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự bồi thường.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;

  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;

  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Hà Tĩnh;

  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;

  • - Phòng LLTP Sở tư pháp;

  • - Bị cáo; bị hại;

  • - Người có quyền và nghĩa vụ liên quan;

  • - THAHS TAND tỉnh Hà Tĩnh;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thương Huyền

- Lưu HSVA.

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị Tuyết là giáo viên trường Mầm non Lộc Yên, xã Lộc Yên, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh, do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên mặc dù không có chức năng, khả năng xin việc làm nhưng Hoàng Thị Tuyết đã đưa ra các thông tin không đúng sự thật như: Có mối quan hệ quen biết với nhiều người và có thể xin được vào làm việc chính thức tại Phòng Nội vụ, Phòng tài nguyên, môi trường huyện Hương Khê, bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, giáo viên mầm non của các trường trên địa bàn và vùng lân cận… với mức chi phí từ 150.000.000 đồng đến 240.000.000 đồng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger