|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày 17-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Lệ
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Chung và ông Đoàn Văn Bông
- Thư ký phiên tòa: Ông Phí Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân
huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Pou B, sinh ngày 28-01-1978 tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: Số B, đường M, tổ D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; Căn cước công dân số [...]; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá (học vấn) 04/12; Dân tộc: Kơ Ho; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông K, con bà Ka T; Tiền sự: không; Tiền án: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Bị hại: Bà Sara L, sinh năm 1993. Địa chỉ: thôn Đ, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nròng T1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn F, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào khoảng đầu tháng 8 năm 2023, Pou B thấy trên mạng xã hội quảng cáo: “Nhận làm các loại giấy tờ sổ đỏ, sổ hồng, chứng chỉ, bằng tốt nghiệp” nên M liên hệ nhắn tin với một người sử dụng tài khoản zalo “Qwy” để đặt làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với mục đích sử dụng để thế chấp vay tiền. Người sử dụng tài khoản zalo “Q” nói làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giống thật 90%, không được sử dụng để vay ngân hàng, vay đại lý mà chỉ nên vay họ hàng, gia đình, thời gian làm khoảng 04 ngày, không cần cọc tiền trước, gửi tận nhà, được kiểm tra hàng rồi trả tiền. Sau đó Pou B đặt làm một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, M chụp hình ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 989107, cấp ngày 27-9-2018 (bản phô tô, vì bản chính M đang thế chấp tại Ngân hàng) đối với thửa đất số 74, tờ bản đồ 60, diện tích 3419,2m², xã L, thẻ căn cước công dân của M rồi gửi cho người sử dụng tài khoản zalo “Qwy” và yêu cầu người sử dụng tài khoản zalo “Qwy” làm giống và một số thông tin trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất M yêu cầu khác như: Tên chủ sử dụng đất từ tên bố K thành Pou B, sửa thông tin thay đổi cho tặng Pou B và thỏa thuận số tiền làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3.000.000 đồng. Sau khoảng một tuần, người sử dụng tài khoản zalo “Qwy” nói M chuẩn bị tiền để nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, có người giao hàng gọi điện thoại cho M hẹn gặp ở gần chợ mới thuộc thị trấn D để nhận hàng. M nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và đưa cho người giao hàng số tiền 3.000.000 đồng. M đem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả về nhà kiểm tra thì phát hiện sai một số thông tin từ số CO 989107 thành số DI 693055, sai sơ đồ thửa đất rồi M đem cất giấu ở nhà mình.
Đến khoảng 09 giờ ngày 18-8-2023, M gặp Sara L tại quán C gần chợ mới D, L và M thỏa thuận: M sẽ thế chấp một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho L, L sẽ cho M vay số tiền 15.000.000 đồng, hẹn đến mùa cà phê (khoảng tháng 01-2024) sẽ trả. Do lúc này, L chỉ có 7.000.000 đồng nên M yêu cầu L đưa trước để đi lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi M dẫn L về nhà M. Sau khi lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì L đưa cho M số tiền 7.000.000 đồng. M nói L ra quán cà phê nào đó ở D đợi, một lúc sau M sẽ đến làm giấy tờ thì L đi đến quán cà phê gần cổng bệnh viện D đợi nhưng M không ra gặp L để ký giấy nợ như đã hẹn. Do thấy M hứa hẹn nhiều lần mà chưa gặp để viết giấy nợ, L đem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nhà Drong T để nhờ kiểm tra xem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thật hay giả. Ngày 22-8-2023 D1 kiểm tra Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 693055 tại Ủy ban nhân dân xã L nghi là giả nên đã trình báo Công an huyện D lập biên bản tạm giữ, niêm phong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 693055.
Ngoài ra, vào ngày 14-8-2023, M tiếp tục trao đổi và gửi hình ảnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DA 829398, cấp ngày 30-7-2023 (bản phô tô, thửa đất số 1035, 1036, 1089, 1090, 1120 và 1121 tại thị trấn D, huyện D) cho người sử dụng zalo “Qwy” để làm thêm một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khác giống như hình ảnh đã gửi với mục đích mượn tiền của bạn bè, người thân quen. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D kiểm tra, thu giữ đơn hàng của P có chứa một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 829398, ngày 30-7-2023 là giả tại Công ty cổ phần D2, bưu cục số A, đường H, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động cảm ứng có chữ Samsung; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 829398, ngày 30-7-2023; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 693055 ngày 02-7-2023; Số tiền 7.000.000 đồng.
Tại bản Kết luận giám định số 1056/KL-KTHS ngày 05-10-2023 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận “Các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI 693055 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 829398 là giả”.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Sara L yêu cầu M trả lại số tiền 7.000.000 đồng, hiện tại M đã giao nộp số tiền 7.000.000 đồng tại cơ quan điều tra.
Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 829398, ngày 30-7-2023 M đặt làm, do M chưa nhận, chưa sử dụng vào hành vi trái pháp luật nên không đủ cơ sở khởi tố, điều tra đối với hành vi liên quan đến Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 829398 giả.
Đối với hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức của tài khoản zalo “Qwy” mà Pou Bry M1 đã liên hệ qua mạng xã hội để thuê làm một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 829398, ngày 30-7-2023; 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 693055, ngày 02-7-2023 là giả, quá trình điều tra, xác minh không xác định được đối tượng làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức nên chưa đủ cơ sở để xử lý. Do vậy, cơ quan cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 09A/CT-VKS-DL ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố bị cáo Pou Bry M1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo cáo trạng đã công bố và đề nghị Hội đồng xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 và điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo về 06 đến 09 tháng tù. Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo có nghĩa vụ trả lại cho bà Sara L số tiền 7.000.000 đồng. Về tang vật: Tịch thu và sung công quỹ 01 điện thoại di động; Lưu hồ sơ vụ án 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả. Về án phí: Bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo phạm tội lần đầu, xin Hội đồng xét xử xử bị cáo hình phạt tiền để bị cáo ở nhà chăm sóc mẹ già.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo Pou Bry M1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo thực hiện hành vi của mình là do cố ý, bị cáo biết hành vi sử dụng tài liệu, giấy tờ giả để thực hiện hành vi trái pháp luật là phạm tội nhưng vẫn thực hiện thủ đoạn gian dối làm cho bà Sara L tự nguyện giao tiền cho bị cáo và bà Sara L cho rằng việc giao tiền cho bị cáo như vậy là hoàn toàn hợp pháp, bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của bà Sara L là số tiền 7.000.000 đồng. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Pou Bry M1 phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật, nhưng do muốn có tiền tiêu xài cá nhân, lười lao động chân chính nên đã cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến sự hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác và xâm phạm sở hữu. Do đó, khi lượng hình cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[4] Về vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Lưu hồ sơ vụ án 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 829398, ngày 30-7-2023 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 693055 ngày 02-7-2023. Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động cảm ứng có chữ Samsung (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16-01-2024).
[5] Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Pou Bry M1 có nghĩa vụ trả lại cho bà Sara L số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Hiện nay đang tạm giữ tại Kho bạc nhà nước D3 theo giấy nộp tiền ngày 31-8-2023 tại Ngân hàng TMCP C1, tên người nộp Phạm Văn T2, tên người nhận Công an huyện D, số tài khoản ghi có 3949.0.9059257.00000.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Pou Bry M1 phạm tội về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Áp dụng thêm điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Pou Bry M1 06 tháng tù và bị cáo Pou Bry M1 phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; Xử phạt bị cáo Pou Bry M1 06 tháng tù.
- Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 về quyết định trong trường hợp phạm nhiều tội. Tổng hợp hình phạt chung hai tội là 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.
- Về vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Lưu hồ sơ vụ án 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DA 829398, ngày 30-7-2023 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DI 693055 ngày 02-7-2023. Tịch thu và nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động cảm ứng có chữ Samsung (Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16-01-2024).
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Pou Bry M1 có nghĩa vụ trả lại cho bà Sara L số tiền 7.000.000 đồng (Bảy triệu đồng). Hiện nay đang tạm giữ tại Kho bạc nhà nước D3 theo giấy nộp tiền ngày 31-8-2023 tại Ngân hàng TMCP C1, tên người nộp Phạm Văn T2, tên người nhận Công an huyện D, số tài khoản ghi có 3949.0.9059257.00000.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Pou Bry M1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Pou Bry M1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà Sara L và bà Nròng T1 vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Mỹ Lệ |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bou B phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 1 Điều 174 của BLHS năm 2015 và tội "Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" theo khoản 1 Điều 341 của BLHS năm 2015.
