Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH THUẬN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-5-2024

V/v ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Linh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Hoàng Khương

2. Ông Phạm Hoàng Vũ

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Chúc Phương - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 4 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35A/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 38A/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/5/2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tú T, sinh năm 1996 (có mặt)

Địa chỉ: ấp VL2, xã TT, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang

2. Bị đơn: Ông Đặng Trí P, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp K2A, xã TT, huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 21/02/2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tú T trình bày:

Bà và Đặng Trí P chung sống với nhau vào tháng 02 năm 2023, có đăng ký kết hôn và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vợ chồng chung sống thật sự hạnh phúc đến khoảng tháng 7 năm 2023 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông P ghen tuông vô cớ, cho rằng bà có người đàn ông khác bên ngoài. Ông P thường xuyên bị ảo giác có hành vi đánh đập bà nhiều lần, do đó vợ chồng đã thật sự ly thân nhau từ tháng 10 năm 2023 đến nay.

Về con: Vợ chồng chưa có con.

Về tài sản: Vợ chồng không tài sản chung.

Về nợ: Vợ chồng không nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng.

Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Về hôn nhân: Xin ly hôn với ông Đặng Trí P.
  • Về con: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về tài sản: Không có, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Về nợ: Vợ chồng không nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tú T vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày và yêu cầu như trên.

- Bị đơn ông Đặng Trí P vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; đối với người tham gia tố tụng bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là chưa đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự, cụ thể như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa xét xử;

+ Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét những vấn đề cụ thể như sau, về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Tú T ly hôn ông Đặng Trí P; về con, tài sản chung và về nợ chung, không có tranh chấp nên không xem xét.

3

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý cho bị đơn ông Đặng Trí P biết và quy định thời gian để bị đơn có ý kiến về việc khởi kiện “Ly hôn” của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tú T. Nhưng bị đơn ông P không có ý kiến gì và cung cấp chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Do đó, Tòa án vẫn tiến hành việc giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Sau đó, Tòa án tiến hành Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, đồng thời đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông P, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà bị đơn ông P vẫn cố tình vắng mặt không lý do. Như vậy, được xác định đây là vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: “Bị đơn,........đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt”.

Nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung và đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn ông Đặng Trí P, nhưng bị đơn ông P vắng mặt không có lý do nên HĐXX P hoãn phiên tòa. Quyết định hoãn phiên tòa để mở phiên tòa xét xử lần thứ hai đã được tống đạt hợp lệ cho bị đơn ông P, nhưng bị đơn ông P vẫn vắng mặt không có lý do, đồng thời tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà T không yêu cầu hoãn phiên tòa. Vì vậy, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông P theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tú T và ông Đặng Trí P tự nguyện lấy nhau làm vợ chồng, đủ tuổi, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã TT cấp giấy chứng nhận kết hôn. Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông P là hôn nhân hợp pháp phù hợp theo quy định tại các điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Giữa bà T và ông P đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân ông P ghen tuông, trong lúc cãi nhau thì ông P có đánh bà T và thực tế vợ chồng đã ly thân nhau. Tại phiên tòa hôm nay, bà T vẫn cương quyết ly hôn với ông P. Kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án và cho đến tại phiên tòa hôm nay, ông P không đến Tòa án để trình bày ý kiến cũng như không tham gia phiên tòa xét xử mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng.

4

Qua kết quả xác minh, thu thập chứng cứ thì tình trạng mâu thuẫn và thời gian ly thân của vợ chồng của bà T, ông P là có thật, phù hợp với lời trình bày của bà T nêu trên (bút lục số 21).

Từ đó cho thấy mối quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông P không khả năng đoàn tụ, tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T đối với ông P là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về quan hệ nuôi con chung, quan hệ tài sản chung và quan hệ nợ chung: Theo bà T, vợ chồng chưa có con chung; không tài sản chung; không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của bà T về con, tài sản chung và nợ như trên, Tòa án đã nêu trong Thông báo về việc thụ lý vụ án để ông P biết, nhưng đến nay ông Pi không có ý kiến gì phản bác ý kiến của bà T và cũng không có yêu cầu gì khác. Như vậy, khi Tòa án giải quyết vụ án này thì các đương sự (bà T, ông P) không có tranh chấp và yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung và nợ, do đó HĐXX không xem xét giải quyết.

Xét ý kiến đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

[3] Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tú T có đơn yêu cầu xin ly hôn nên bà T P chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015,

Áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

5

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Tú T ly hôn ông Đặng Trí P.
  2. Về quan hệ nuôi con chung, quan hệ tài sản chung và về quan hệ nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.
  3. Về án phí: Bà Lê Thị Tú T P chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0005393 ngày 05 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận; bà T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 31/5/2024); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người P thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh KG;
  • - VKS huyện, tỉnh;
  • - Các Đ/s;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - UBND xã TT;
  • - Lưu (HSVA, VPTA).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà




Phạm Thị Mỹ Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Về hôn nhân: Xin ly hôn với ông Đặng Trí P. - Về con: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. - Về tài sản: Không có, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. - Về nợ: Vợ chồng không nợ ai cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger