|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do –Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2024/HSST Ngày: 22/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm tại điểm cầu trung tâm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Mạnh Trang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu; bà Chẻo Thị Hà
Thư ký phiên toà: Ông Phùng Trung Sơn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà tại điểm cầu trung tâm: Bà Lê Ngọc T, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2024/HSST, ngày 29 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST –HS, ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Lù Văn S- Sinh năm: 1970; Sinh tại: S, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: bản Nậm Há, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Đoàn, Đảng: không; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Lù Văn Đ (tên gọi khác Lù Văn N) - đã chết; Con bà: Lù Thị P (Lù Thị P1) – đã chết; Bị cáo có vợ là Lò Thị B (Lò Thị V) – sinh năm: 1972; Bị cáo có 04 con, con lớn nhất là Lù Văn T1 và Lù Văn T2, đã chết; Hiện tại bị cáo có 02 con là Lù Thị Đ1 – Sinh năm: 2002 và Lù Văn H - Sinh năm: 2004; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ công an huyện S, tỉnh Lai Châu..
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Xuân O – Luật Sư, cộng tác viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L – Có mặt tại điểm cầu thành phần Trung Tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Lai Châu.
* Người làm chứng:
- Lò Văn S1 – Sinh năm 1997; Trú tại bản: Ta Pả, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN;
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1
Khoảng 16 giờ ngày 01/10/2023, Lù Văn S đi lên bản Pa Khóa, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu thì gặp một người đàn ông tên là T3, S hỏi người này có ma túy bán không, nếu có thì bán cho 2.000.000 đồng tiền Heroine. T3 đồng ý hẹn hôm sau sẽ đem Heroine cho S. Đến 06 giờ 30 phút ngày 03/10/2023, T3 đi đến nhà S, đưa cho S 01 gói Heroine (gói bên ngoài bằng ni lon màu hồng) với giá là 1.500.000 đồng, S nhận gói Heroine, trả tiền cho T3, T3 đi về. Sau khi mua được H1, S đem vào nhà tắm chia số Heroine làm 03 phần, gói lại thành 03 gói, mỗi gói được gói bằng mảnh ni lon màu hồng. Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 03/10/2023, S lấy 01 gói Heroine ra sử dụng, khi S đang sử dụng Heroine thì có Lò Văn S1, trú tại bản Ta Pả, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu vào nhà S hỏi mua 200.000 đồng Heroine, S đồng ý, cầm tiền rồi bẻ một phần trong gói Heroine Sống đang sử dụng, gói vào mảnh ni lon màu hồng đưa cho S1, S1 nhận gói Heroine rồi đi về. Vào hồi 07 giờ 50 phút Tổ công tác Công an huyện S phát hiện Lù Văn S đang sử dụng trái phép chất ma túy trong nhà tắm, thấy tổ công tác, Sống nhét 03 gói được gói ngoài bằng mảnh ni lon xuống lỗ thoát nước, Tổ công tác đã kịp thời khống chế và thu giữ 03 gói chất bột màu trắng đều được gói bằng mảnh ni lon màu hồng nói trên. Lù Văn S, khi nhận 03 gói chất bột màu trắng, S khai đây là Heroine của S, S tàng trữ để sử dụng và tự giác giao nộp số tiền 200.000 đồng, S khai đây là tiền bán Heroine cho Lò Văn S1. Quá trình điều tra Lò Văn S1 khai nhận vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 03/10/2023, S1 mua của S 01 gói Heroine với số tiền 200.000 đồng và đã sử dụng hết.
Qua xác định khối lượng và giám định chất ma túy, tại kết luận giám định tư pháp số 93, ngày 03/10/2023 của người giám định theo vụ việc, đã xác định 03 gói chất bột, màu trắng thu giữ của Lù Văn S có tổng khối lượng là 01 gam. Tại bản Kết luận giám định số: 1059/GĐ-KTHS, ngày 06/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Mẫu chất bột, màu trắng thu giữ của Lù Văn S gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine. Tại bản Kết luận giám định số: 1060/GĐ-KTHS, ngày 06/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 200.000 đồng có mã số hiệu BH 19925702 gửi giám định là tiền thật.
Cáo trạng số: 16/CT- VKS, ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Lù Văn S về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo khoản 1 Điều 251 BLHS và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lù Văn S phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy” và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 38; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 251 BLHS. Xử phạt bị cáo Lù Văn S từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Lù Văn S từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Tổng hợp hình phạt của 2 tội đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 251; khoản 5 Điều 249 BLHS đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo .
2
Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,b,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy gồm: 03 mảnh ni lon màu hồng, 0,84 gam Heroine còn lại sau giám định. Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng thu giữ của Lù Văn S.
Về án phí hình sự sơ thẩm, đề nghị xem xét theo quy định pháp luật.
Người bào chữa cho các bị cáo, trình bày luận cứ bào chữa, người bào chữa nhất trí với tội danh và luận tội của kiểm sát viên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cho bị cáo. Khi bắt giữ bị cáo đã tự nguyện khai báo hành vi bán trái phép chất ma túy cho S1, đề nghi áp dụng điểm r là tự thú cho bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sống vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn nhận thức pháp luật còn hạn chế, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhiều tình tít giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 54, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo, vì bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV, đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo vì bị cáo có điều kiện hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
Tại phiên tòa, bị cáo Lù Văn S khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu trong hồ sơ vụ án do Cơ quan Điều tra thiết lập; Bị cáo nhất trí ý kiến bào chữa của người bào chữa không có ý kiến bổ sung thêm; bị cáo nhất trí luận tội và đề nghị của kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận, không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an huyện S, tỉnh Lai Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và Điều tra viên, Kiểm sát viên được phân công điều tra, truy tố, trong quá trình thực hiện đã tuân thủ đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[ 2 ] Về hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Vào khoảng 07 giờ 50 phút, ngày 03/10/2023, Công an huyện S đang làm nhiệm vụ tại xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu đã phát hiện bắt quả tang Lù Văn S đang có hành vi tàng trữ trái phép 01 gm Heroine, S
3
tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân (hít). Sau khi bị bắt, Lù Văn S tự nguyện giao nộp số tiền 200.000 đồng, sống khai số tiền này là tiền bán H1 cho Lò Văn S1 ở bản T, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu 01 gói Heroine. Như vậy, có đủ căn cứ khẳng định hành vi của Lù Văn S đã phạm vào tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Do vậy, Cáo trạng số: 16/CT – VKS, ngày 29 tháng 03 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ truy tố đối với Lù Văn S về tội "Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[ 3 ] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhận thấy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc bán trái phép Heroine cho người khác và tàng trữ trái phép Heroine để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng vì tư lợi và bản thân bị cáo là người nghiện chất ma túy, nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng sấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Ma túy là nguyên nhân phát sinh ra các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng đến an ninh nông thôn, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc, xử phạt tù đối với bị cáo để dăn đe, giáo dục đối với bị cáo và cũng là để phòng, chống các loại tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về ma túy tại địa phương. Tuy nhiên, khi xem xét mức hình phạt cần phải xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Ngày 30/11/1999, bị cáo Lù Văn S bị Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Ngày 18/11/2009 bị cáo Lù Văn S bị Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Xử phạt 7 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong ngày 08/9/2014 và đã chấp hành xong các nghĩa vụ của cả hai bản án. Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội ngày 03/10/2023 bị cáo đương nhiên được xóa án tích.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo; Bị cáo đã tự nguyện giao nộp 200.000 đồng tiền bán Heroine cho lò Văn S2, đây là tình tiết giảm nhẹ tự thú được quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 cần được áp dụng cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS cần được áp dụng cho bị cáo.
[ 4 ] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa, xét thấy, bị cáo có nghề nghiêp trồng trọt, hoàn cảnh kinh tế khó khăn, không có điều kiện thi hành, Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4
Trong vụ án này, theo lời khai của Lù Văn S, số H bị thu giữ là do S mua của một người đàn ông tên là T3 ở bản P, xã P, huyện S, tỉnh Lai Châu, qua điều tra xác minh Lò Văn T4 không có mặt tại địa phương, cơ quan Điều tra tách ra để điều tra xác minh và xử lý khi có đủ căn cứ. Đối với Lò Văn S1 mua 01 gói Heroine của Lù Văn S với số tiền 200.000 đồng, nhưng S1 đã sử dụng hết nên không đủ cơ sở để xử lý Lò Văn S1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[ 5 ] Về vật chứng: Đối với 03 mảnh ni lon màu hồng và 0,84 gam Heroine, hiện đang thu giữ, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội và chất cấm tàng trữ cần phải tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 200.000 thu giữ của Lù Văn S, đây là tiền do phạm tội mà có cần phải tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
[ 6 ] Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn cần áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và một phần ý kiến đề nghị của người bào chữa là có căn cứ, Hội đồng xét xử cần phải chấp nhận. Đối với ý kiến của người bào chữa đề nghị áp dụng Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có nhân thân sấu, do vậy hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến đề nghị này của người bào chữa.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 251 BLHS.
Áp dụng Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249;
Áp đụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 ; Điều 55 BLHS và điểm a,b khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về án phí, lệ phí.
- Tuyên bố bị cáo Lù Văn S phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Về xử lý vật chứng:
Xử phạt bị cáo Lù Văn S 02 (hai) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lù Văn S 01 (một)năm 6 (S3) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tổng hợp hình phạt của 02 tội bị cáo Lù Văn S phải chấp hành hình phạt là 03 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 03/10/2023.
Tịch thu tiêu hủy gồm: 0,84 gam Heroine còn lại sau giám định và 03 mảnh ni lon màu hồng.
5
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, có mã số hieuj BH19925702..
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện S, tỉnh Lai Châu và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu ngày 01/4/2024).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lù Văn S.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án lên Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu để xem xét theo thủ tục phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà |
6
Bản án số 41/2024/HSST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 41/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 07 giờ 50 phút ngày 03/10/2024 Công an huyện Sìn Hồ đã phát hiện bắt quả tang Lù Văn S đang có hành vi Tàng trữ trái phép 01 gam Heroine S tàng trữ đè sử dụng
