TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST Ngày 25-4-2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quyết
Bà Nguyễn Thị Tâm
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện VB tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 194/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thu T; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã VT, huyện VB, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn TN, xã AH, huyện VB, thành phố Hải Phòng; có mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L; nơi cư trú: Thôn A, xã VT, huyện VB, thành phố Hải Phòng; vắng mặt không có lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Phạm Thu T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn L kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 15-10-2014 tại Ủy ban nhân dân xã VT, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận thời gian đầu và có 02 con chung.
Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp nên đã xảy ra bất hòa. Từ tháng 02/2023 đến nay chị đã đưa 01 con chung về gia đình chị ở Thôn Tạ Ngoại 1, xã An Hòa, huyện VB, thành phố Hải Phòng sinh sống. Vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau, đối xử với nhau lạnh nhạt. Nay nhận thấy tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn L.
Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn L có 02 con chung là Nguyễn Gia B, sinh ngày 05-8-2014 và Nguyễn Phương T M, sinh ngày 08-9-2016, hiện đang ở với anh L. Khi ly hôn, chị đề nghị Tòa án giao con Nguyễn Phương T M cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Nguyễn Gia B cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị xin tự giải quyết với anh L.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn L đến Tòa án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng để giải quyết vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con theo đơn khởi kiện của chị Phạm Thu T nhưng anh L đều vắng mặt không có lý do. Anh Nguyễn Văn L không khai báo và không đưa ra bất cứ quan điểm nào về việc giải quyết vụ án.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ, việc xét xử vắng bị đơn. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải, tại phiên tòa bị đơn vắng mặt không có lý do, tuy nhiên vi phạm của bị đơn không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thu T được ly hôn anh Nguyễn Văn L. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Gia B, sinh ngày 05-8-2014 cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Nguyễn Phương T M, sinh ngày 08-9-2016 cho chị Phạm Thu T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị Phạm Thu T xin tự giải quyết với anh Nguyễn Văn L nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị Phạm Thu
T và anh Nguyễn Văn L không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Phạm Thu T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Anh Nguyễn Văn L có hộ khẩu thường trú tại Thôn A, xã VT, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn giữa chị Phạm Thu T và anh Nguyễn Văn L thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng.
[2] Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa, tuy nhiên anh L vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn L.
- Về nội dung vụ án:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thu T và anh Nguyễn Văn L kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã VT, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 15-10-2014, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận thời gian đầu và có hai con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp nên đã xảy ra bất hòa. Từ tháng 02/2023 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị Phạm Thu T xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị được ly hôn anh Nguyễn Văn L. Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Văn L đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, tuy nhiên anh L không khai báo, không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải, phiên tòa, không có quan điểm về việc chị T xin ly hôn. Điều này không chỉ thể hiện việc anh L đã tự từ bỏ quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật được B vệ mà còn thể hiện việc thiếu thiện chí trong việc hòa giải để vợ chồng đoàn tụ. Qua đó cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Phạm Thu T và anh Nguyễn Văn L đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, yêu cầu của chị Phạm Thu T xin ly hôn với anh Nguyễn Văn L phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình được chấp nhận.
[4] Về con chung: Chị Phạm Thu T và anh Nguyễn Văn L có hai con chung là Nguyễn Gia B, sinh ngày 05-8-2014 và Nguyễn Phương T M, sinh ngày 08-9-2016. Khi ly hôn, chị T đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Phương T M cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Nguyễn Gia B cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng. Anh L không có quan điểm về việc nuôi con chung. Qua xác minh thì thấy: Chị T và anh L đều có nơi ở và thu nhập đủ điều kiện nuôi con chung, hiện nay hai con chung đang ở với anh L, cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 05-8-2014 có nguyện vọng xin ở với anh L, cháu Nguyễn Phương T M còn nhỏ cần sự chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, để đảm B quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của chị T, giao con chung Nguyễn Phương T M cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Nguyễn Gia B cho anh L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chị T xin tự giải quyết với anh L nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Phạm Thu T và anh Nguyễn Văn L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Phạm Thu T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thu T được ly hôn anh Nguyễn Văn L.
2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Phương T M, sinh ngày 08-9-2016 cho chị Phạm Thu T trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Nguyễn Gia B, sinh ngày 05-8-2014 cho anh Nguyễn Văn L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị Phạm Thu T xin tự giải quyết với anh Nguyễn Văn L nên Tòa án không xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Chị Phạm Thu T và anh Nguyễn Văn L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Phạm Thu T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Phạm Thu T đã nộp tạm ứng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006744 ngày 15 tháng 11 năm 2023. Chị Phạm Thu T đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn tranh chấp nuôi con chia tai sản giữa chị Phạm Thu Thảo và anh Nguyễn Văn L
