Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN N

TỈNH X

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 14-8-2023

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Văn Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Bà Lưu Thị Mỹ Linh;
  • - Bà Chế Thị Hồng Cẩm.

Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Trường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh X.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh X tham gia phiên tòa: Ông Châu Pholy, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2022/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2023 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 42/2023/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lường Thị Nh, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ 06, ấp Suối Bà Chiêm, xã Tân Hòa, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh (có đơn xin vắng mặt);

- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc Th, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ 13, ấp An Thanh, xã Lê Trì, huyện N, tỉnh X (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 27 tháng 02 năm 2023 và lời khai trong quá trình giải quyết tại Tòa án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Bà Lường Thị Nh trình bày:

Về hôn nhân: Bà Nh và Ông Nguyễn Quốc Th xác lập quan hệ hôn nhân năm 2009, hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn, sau khi cưới thì vợ chồng sống tại ấp An Thạnh, xã Lê Trì, huyện N, tỉnh X. Trong thời gian chung sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, thường cự cãi nên đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Nhận thấy, vợ chồng không còn tình cảm nên Bà Lường Thị Nh yêu cầu được ly hôn với Ông Nguyễn Quốc Th.

Về con chung: Có 01 đứa con chung tên Nguyễn Thị Xuân Vi, sinh ngày 13/8/2010. Hiện con đang sống với Bà Nh, Bà Nh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu Ông Th cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu toà án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết Ông Nguyễn Quốc Th vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến, lời khai.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện N phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn vắng mặt là vi phạm nghĩa vụ theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nh và Ông Nguyễn Quốc Th xác lập quan hệ hôn nhân năm 2009, hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quá trình chung sống giữa Bà Nh và Ông Th thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng cự cãi nhiều lần nên đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Qua xác minh ngày 13/6/2023 cho thấy vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi nên vợ chồng ly thân, điều này cho thấy cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Bà Lường Thị Nh đối với Ông Nguyễn Quốc Th.

Về con chung: Có 01 đứa con chung tên Nguyễn Thị Xuân Vi, sinh ngày 13/8/2010. Hiện cháu đang sống với Bà Nh, Bà Nh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu Ông Th cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy, từ khi ly thân đến nay Bà Nh luôn đảm bảo việc nuôi con, nên yêu cầu được tiếp tục nuôi con của Bà Nh là hợp lý, đề nghị chấp nhận. Bà Nh không yêu cầu Ông Th cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Tại phiên tòa, Ông Nguyễn Quốc Th vắng mặt, nguyên đơn Bà Lường Thị Nh có đơn xin vắng mặt, Bà Nh vẫn giữ nguyên yêu cầu và không cung cấp tài liệu chứng cứ gì thêm cho Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa, quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn Ông Nguyễn Quốc Th đã được Tòa án nhân dân huyện N triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, Bà Lường Thị Nh có đơn xin vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn Ông Nguyễn Quốc Th có đăng ký hộ khẩu và thường trú tại ấp An Thạnh, xã Lê Trì, huyện N, tỉnh X. Tòa án nhân dân huyện N thụ lý, giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Bà Nh và Ông Nguyễn Quốc Th xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 2009, hôn nhân tự nguyện có đăng ký kết hôn nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, quá trình chung sống giữa Bà Nh và Ông Th thường xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng cự cãi nhiều lần nên đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Qua xác minh ngày 13/6/2023 thể hiện vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, nên dẫn đến ly thân, điều này cho thấy cuộc sống hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Bà Lường Thị Nh đối với Ông Nguyễn Quốc Th là có căn cứ.

Về con chung: Có 01 đứa con chung tên Nguyễn Thị Xuân Vi, sinh ngày 13/8/2010. Hiện cháu đang sống với Bà Nh, Bà Nh yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu Ông Th cấp dưỡng nuôi con. Nhận thấy, từ khi ly thân đến nay Bà Nh luôn đảm bảo việc nuôi con, nên yêu cầu được tiếp tục nuôi con của Bà Nh là hợp lý. Bà Nh không yêu cầu Ông Th cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[3] Về án phí: Bà Lường Thị Nh khởi kiện xin ly hôn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định. Ông Nguyễn Quốc Th không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điều 227; Điều 228; Điều 217; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Bà Lường Thị Nh đối với Ông Nguyễn Quốc Th. Bà Lường Thị Nh được ly hôn với Ông Nguyễn Quốc Th.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 74/2010, ngày 09 tháng 9 năm 2010 của Ủy ban nhân dân xã Tân Hòa, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Bà Lường Thị Nh được nuôi con chung tên Nguyễn Thị Xuân Vi, sinh ngày 13/8/2010.

Bà Lường Thị Nh cùng các thành viên gia đình không được cản trở Ông Nguyễn Quốc Th trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con chưa thành niên, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân tổ chức có thẩm quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người nuôi con.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bà Lường Thị Nh phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009925 ngày 09 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, Bà Nh đã nộp đủ án phí.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự có quyền kháng cáo, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện N;
  • - TAND tỉnh X;
  • - Chi cục THADS huyện N;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đoàn Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2023/HNGĐ-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH X về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 41/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH X
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Bà Lường Thị Nh đối với Ông Nguyễn Quốc Th. Bà Lường Thị Nh được ly hôn với Ông Nguyễn Quốc Th.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger