Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN THỦY

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày: 20/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Trung Nghĩa

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Bùi Thị Nga

Ông Đinh Ngọc Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hạnh, Thư ký viên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy tham gia phiên toà:

Ông Đinh Thế Huy, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Bùi Mạnh P. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 20 tháng 11 năm 2005. Nơi cư trú: xóm H, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Mường. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Chức vụ trước khi phạm tội: Không. Trình độ học vấn: 11/12. Con ông: Bùi Văn N và bà Bùi Thị L - SN: 1978 (đã chết); Tiền án, tiền sự: Không. Vợ, con: chưa có. Bị can bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/3/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. (Có mặt tại phiên tòa).

+ Người bào chữa cho bị cáo Bùi Mạnh P:

Bà Bùi Thị T; Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H. (Có mặt tại phiên tòa).

2/ Bùi Đan T1; Tên gọi khác: Không. Sinh ngày 19 tháng 8 năm 2004. Nơi cư trú: Xóm H, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Bùi Văn H và bà Bùi Thị Q; Tiền án, tiền sự: Không; Vợ, con: chưa có; Bị can đang được tại ngoại tại địa phương.

2/ Người bị hại:

+ Anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1986 (đã chết)

Địa chỉ: Xóm T, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình

- Người đại diện theo ủy quyền của người bị hại:

Anh Bùi Văn L1, sinh năm 1979 (Có mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: Xóm T, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình

3/ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Bùi Văn N, sinh năm: 1968 (Có mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: Xóm H, xã Y, huyện Y, tỉnh Hòa Bình

4/ Người làm chứng:

+ Anh Quách Văn B; sinh năm 1986. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Xóm T, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình

+ Bà Quách Thị K; sinh năm 1959 (Có mặt tại phiên tòa).

Địa chỉ: Xóm T, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 29/11/2023, Bùi Đan T1 điều khiển xe mô tô BKS: 28FN-013.21 nhãn hiệu HONDA, số màu sơn đen thuộc sở hữu của mình đi đến nhà Bùi Mạnh P để cùng với P đi ăn cơm, uống rượu tại xóm R, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Do chơi thân với nhau nên T1 biết rõ P không có giấy phép lái xe theo quy định, tuy nhiên do bạn bè với nhau nên T1 vẫn đưa chìa khoá và giao xe mô tô của mình cho P điều khiển còn bản thân T1 ngồi phía sau. Sau khi ăn cơm uống rượu xong, P tiếp tục điều khiển xe mô tô chở T1 đến nhà của P ở xóm H để nghỉ ngơi.

Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, P gọi T1 dậy để đi dự đám cưới chị Bùi Thị D tại xóm T, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Quá trình đi P tiếp tục là người điều khiển xe mô tô, T1 ngồi phía sau xe. Sau khi đến đám cưới, T1P vào ăn đồng thời sử dụng rượu cùng một số người khác. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn xong ở đám cưới, P tiếp tục điều khiển xe mô tô phía sau chở T1 đi về nhà theo đường liên xã H đi Y. Khi đi đến địa phận xóm T, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình là đoạn đường thẳng, mặt đường phẳng khô ráo, không có đèn đường, tầm nhìn không bị che khuất. Do thời điểm này ít phương tiện tham gia giao thông nên P điều khiển xe đi với tốc độ khoảng 50 km/giờ, trong quá trình đi P quan sát thấy phía trước cùng chiều có xe mô tô BKS: 28F1-104.77 do anh Bùi Văn Đ một mình điều khiển đang chuyển động, phía ngược chiều không có phương tiện lưu thông. Quan sát thấy tình trạng giao thông như trên, P vẫn điều khiển xe giữ nguyên tốc độ và đi ở phía sau xe mô tô do anh Đ điều khiển khoảng hơn 100 mét, khi còn cách khoảng 10 mét thì anh Đ điều khiển xe chuyển hướng rẽ trái vào đường nhánh (không có tín hiệu chuyển hướng), thấy vậy P cũng điều khiển xe chuyển động đi sang bên trái để tránh va chạm nhưng do không giữ khoảng cách an toàn dẫn đến không làm chủ được tay lái khiến xe mô tô do P điều khiển đâm vào xe mô tô của anh Đ gây tai nạn. Hậu quả: Anh Bùi Văn Đ tử vong, Bùi Mạnh P, Bùi Đan T1 bị thương tích, hai phương tiện bị hư hỏng.

Sau khi tai nạn xảy ra xe mô tô BKS: 28F1-104.77 nằm ở giữa đường, xe mô tô BKS: 28FN-013.21 nằm ở lề đường bên trái hướng L (Y- Hòa Bình) đi Y (L - Hòa Bình). Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Nơi sảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng thuộc địa phận xóm T, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình đi xóm Đ, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Đoạn đường liên xã được đổ bê tông, rộng 6m 55, bên phải theo hướng xóm T, Lạc T2, Y, Hòa Bình có đường liên xã rộng: 3m96, bên trái đường liên xã có đường rẽ đi xóm T, L, Y rộng 7m45, mặt đường phẳng. M lấy cột điện nằm tại khoảng đất lưu không bên phải theo hướng xóm T, Lạc T2, Y, Hòa Bình đi xóm Đ, Y, L, Hòa Bình, ký hiệu TBA 16 làm điểm mốc để đo đến các vị trí các dấu vết và phương tiện. Lấy mép đường bên phải theo hướng xóm T, Lạc T2, Y, Hòa Bình đi xóm Đ- Y - L để đo đến các vị trí dấu vết và phương tiện. Vết cà trượt ký hiệu số 1 trên sơ đồ hiện trường do chân trống giữa phía bên trái xe mô tô BKS: 28F1-104.77 cà trượt trên mặt đường tạo thành, có chiều hướng Lạc T2 - Y đi Y- L. Vết cà trượt số 2 trên sơ đồ hiện trường có chiều hướng L - Y đi Y - L do để chân trước bên phải và đầu chân phanh bên phải của xe gắn máy BKS: 28FN-013.21 cà trượt trên mặt đường tạo thành. Vết cà trượt số 3 trên sơ đồ hiện trường do tay phanh trước bên phải và ốp nhựa xi nhan phía trước bên phải xe gắn máy BKS: 28FN- 013.21 cà trượt trên mặt đường tạo thành. Vết cà trượt số 4 do đầu giảm sóc bên phải xe gắn máy BKS: 28FN-013.21 cà trượt trên mặt đường tạo thành. Vết cà trượt số 5 do gương bên trái của xe mô tô BKS: 28F1-104.77 cà trượt trên mặt đường tạo thành. Từ các dấu vết và phương tiện để lại trên hiện trường xác định điểm chạm giữa 2 phương tiện là khoảng không chiếu vuông góc xuống mặt đường bên trái hướng L- Y đi Y- L trên sơ đồ hiện trường. A cách mép đường chuẩn là 3m 68.

Kết quả khám nghiệm phương tiện cơ bản ghi nhận các dấu vết: Đối với xe mô tô BKS: 28F1-104.77: Đầu để chân phía sau bên trái cong gập xô chùn góc khoảng 120 độ, chiều hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới; Mặt ngoài nhựa ốp lốc máy bên trái có vết cà trượt kích thước 6x 5cm chiều hướng từ trên xuống dưới, từ sau ra trước. Đầu chân chống giữa bên trái có vết cà trượt kim loại kích thước 2 x 0,5cm. (Bút lục 35 đến 46). Đối với xe mô tô BKS 28FN-013.21: Ốp nhựa phía trước đầu xe bung bật. Góc dưới bên phải ốp nhựa có vết mài trượt, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải kích thước 15 x 10cm; Cánh yếm bên phải có vết mài trượt kích thước 62 x 11cm chiều hướng từ trước ra sau, từ trái qua phải; đầu chắn bùn phía trước có vết trượt, xước kích thước 16 x 7,5cm, chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trưng cầu giám định nguyên nhân chết đối với bị hại trong vụ án. Kết luận giám định tử thi số 139/KLGĐTT-PC09-CAT ngày 07/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận nguyên nhân chết đối với bị hại Bùi Văn Đ: “Nạn nhân bị chấn thương vùng: Đầu, ngực, thắt lưng, mông, tay do tác động va đập với vật tày rắn gây nên các tổn thương: Vỡ xương hộp sọ và nhiều vết xây sát, rách da, sưng nề, bầm tím trên cơ thể. Nạn nhân chết do chấn thương sọ não”.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định cồn trong máu đối với bị can Bùi Mạnh P, Bùi Đan T1 và bị hại Bùi Văn Đ. Kết luận giám định số 8881/KL-KTHS ngày 11/12/2023 của V Bộ C1 kết luận: “Trong mẫu máu ghi thu của Bùi Văn Đ (ký hiệu M1) gửi giám định có tìm thấy ethanol (cồn); nồng độ ethanol: 218mg/100ml máu. Trong mẫu máu ghi thu của Bùi Mạnh P (ký hiệu M2) gửi giám định có tìm thấy ethanol (cồn); nồng độ ethanol: 254mg/100ml máu. Trong mẫu máu ghi thu của Bùi Đan T1 (ký hiệu M3) gửi giám định có tìm thấy ethanol (cồn); nồng độ ethanol: 158 mg/100 ml máu.”

Cơ quan Điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định chất ma tuý đối với bị can Bùi Mạnh P, Bùi Đan T1 và bị hại Bùi Văn Đ Kết luận giám định số 8870/KL-KTHS ngày 13/12/2023 của V Bộ C1 kết luận: “Đều không tìm thấy các chất ma tuý và sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý trong các mẫu máu của phong bì kí hiệu M1, M2 và M3 gửi giám định.”

Cơ quan Điều tra đã tiến hành trưng cầu định giá những hư hỏng thiệt hại của hai phương tiện trong vụ án. Kết luận định giá số 24/KL-HĐ ĐG TS ngày 22/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: “Xe mô tô BKS: 28F1-104.77, nhãn hiệu Hon Đa, số loại AIRBLADE, màu sơn đỏ đen, số máy JF63E1149943, số khung 6309FZ624966, xe được đăng ký sử dụng từ tháng 02 năm 2017. Những hư hỏng thiệt hại tại thời điểm ngày 29/11/2023: 2.190.000 đồng (hai triệu một trăm chín mươi nghìn đồng). Xe mô tô BKS: 28FN-013.21, nhãn hiệu HONDA, màu sơn đen, số máy JA39E3156188, số khung RLHJA3921PV729207, xe được đăng ký sử dụng từ tháng 10 năm 2023. Những hư hỏng thiệt hại tại thời điểm ngày 29/11/2023: 430.000 đồng (bốn trăm ba mươi nghìn đồng).” (Bút lục 168 đến 170).

Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã tạm giữ các vật chứng:

- 01 (một) xe mô tô BKS: 28F1- 104.77, nhãn hiệu HONDA, số loại AIRBLADE, màu sơn đỏ - đen, xe cũ đã qua sử dụng và bị hư hỏng do vụ tai nạn giao thông. 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 28F1- 104.77 số 006084; 01 (một) giấy phép lái xe hạng A1 số S192560 mang tên Bùi Văn Đ; 01(một) xe mô tô BKS: 28FN-013.21, nhãn hiệu HONDA, màu sơn đen - bạc, xe cũ đã qua sử dụng và bị hư hỏng do vụ tai nạn giao thông; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy của xe mô tô biển kiểm soát 28FN- 013.21 số 000297.

Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKS-YT ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Bùi Mạnh P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a,b, khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự; Truy tố bị cáo Bùi Đan T1 về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 264 Bộ luật hình sự.

Thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi xem xét đánh giá toàn diện nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Bùi Mạnh P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo Bùi Đan T1 phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”

+ Hình phạt chính:

Căn cứ điểm a,b, khoản 2, Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo Bùi Mạnh P từ 30 tháng đến 35 tháng tù

Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 264; điểm i,s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự. Tuyên phạt bị cáo Bùi Đan T1 từ 06 tháng đến 08 tháng cải tạo không giam giữ. Không đề nghị áp dụng biện pháp khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian chấp hành án.

+ Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị trả lại 01 Đăng ký xe mô tô mang tên Bùi Đan T1 và 01 xe mô tô BKS: 28FN-013.21 cho chủ sở hữu là bị cáo Bùi Đan T1.

+ Người bào chữa cho bị cáo Bùi Mạnh P trình bày bản luận cứ bào chữa và đề nghị: Áp dụng điểm a,b, khoản 2, Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Bùi Mạnh P 30 tháng tù.

Các bị cáo nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình truy tố, không có ý kiến tranh luận.

Đại diện hợp pháp của người bị hại nhất trí với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận.

Bị cáo Bùi Mạnh P nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa, bị cáo không bổ sung gì thêm.

Bị cáo Bùi Mạnh PBùi Đan T1 nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, tỉnh Hòa Bình, của Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của người làm chứng: Xét thấy người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt.

[2] Về nội dung vụ án:

Xét hành vi của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Lời khai nhận hành vi của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản, sơ đồ, bản ảnh hiện trường; kết luận giám định; lời khai của các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở khẳng định:

Bùi Mạnh P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, chưa có giấy phép lái xe theo quy định. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 29/11/2023 sau khi ăn cơm uống rượu tại đám cưới chị Bùi Thị D thì P được Bùi Đan T1 giao cho điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 28FN-013.21, khi đến địa phận xóm T, xã L, huyện Y, tỉnh Hòa Bình, do không giữ khoảng cách an toàn, không làm chủ được tốc độ với xe liền trước đi cùng chiều nên xe mô tô do P điều khiển đã đâm va vào xe mô tô biển kiểm soát 28F1-104.77 do anh Bùi Văn Đ một mình điều khiển đang chuyển hướng rẽ (không có tín hiệu báo rẽ). Hậu quả: anh Bùi Văn Đ tử vong, gây thiệt hại về tài sản cho xe mô tô BKS: 28F1-104.77 là 2.190.000 đồng (hai triệu một trăm chín mươi nghìn đồng) và thiệt hại cho xe mô tô BKS: 28FN-013.21 là 430.000 đồng (bốn trăm ba mươi nghìn đồng). Kết quả giám định tại Kết luận giám định số 8881/KL-KTHS ngày 11/12/2023 của V Bộ C1 kết luận: “Trong mẫu máu ghi thu của Bùi Mạnh P (ký hiệu M2) gửi giám định có tìm thấy ethanol (cồn); nồng độ ethanol: 254mg/100ml máu”. Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Mạnh P đã vi phạm vào khoản 8, khoản 9, Điều 8, khoản 1, Điều 12 Luật Giao thông đường bộ, khoản 3, Điều 4 và Điều 11 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách của xe cơ giới, xe máy. Đây là lỗi chính, lỗi trực tiếp gây ra vụ tai nạn dẫn đến anh Bùi Văn Đ tử vong nên bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” căn cứ điểm a,b, khoản 1, Điều 260 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Bùi Đan T1 vào khoảng 19 giờ 30 ngày 29/11/2023 sau khi ăn cơm uống rượu tại đám cưới chị Bùi Thị D, Bùi Đan T1 biết rõ Bùi Mạnh P đã uống rượu, không có giấy phép lái xe, không đủ điều kiện để điều khiển xe mô tô nhưng vẫn giao xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 28FN 013.21 (dung tích xi lanh 109,1cm³) cho Bùi Mạnh P sử dụng điều khiển tham gia giao thông, dẫn đến Bùi Mạnh P khi điều khiển xe đã đâm va vào xe mô tô biển kiểm soát 28F1-104.77 do anh Bùi Văn Đ điều khiển hậu quả làm anh Bùi Văn Đ tử vong. Hành vi của bị cáo Bùi Đan T1 đã vi phạm vào khoản 10, Điều 8 của Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết một người nên đã phạm vào tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi:

Hành vi của bị cáo Bùi Mạnh P là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây thiệt hại đến tính mạng của anh Bùi Văn Đ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được khi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân thủ các quy tắc giao thông đường bộ để đảm bảo an toàn, không gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông. Tuy nhiên bị cáo không có giấy phép lái xe, trong máu có nồng độ ethanol: 254mg/100ml máu nhưng vẫn điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 28FN 013.21 (dung tích xi lanh 109,1cm³) không chú ý quan sát, không làm chủ được tốc độ, không đảm bảo khoảng cách an toàn vì vậy khi xe mô tô do anh Đ chuyển hướng đã không kịp xử lý gây tai nạn với hậu quả 01 người tử vong. Tuy nhiên cũng xem xét đên trong vụ án người bị hại Bùi Văn Đ cũng có lỗi khi chuyển hướng không phát tín hiệu, khi điều khiển xe mô tô tham giao thông, trong mẫu máu thu thập được có nồng độ ethanol: 218mg/100ml máu.

Đối với hành vi của bị cáo Bùi Đan T1 là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng gián tiếp gây thiệt hại đến tính mạng của anh Bùi Văn Đ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự chung trên địa bàn huyện Y.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Bùi Mạnh PBùi Đan T1 không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Bùi Mạnh P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình đã tác động đến bố đẻ là ông Bùi Văn N tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả thiệt hại về người cho đại diện người bị hại là anh Bùi Văn L1 số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Người đại diện người bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Bùi Mạnh P, bản thân bị cáo là người dân tộc, gia đình thuộc hộ cận nghèo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b,s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo Bùi Mạnh P khi lượng hình.

Đối với bị cáo Bùi Đan T1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình bị cáo có ông nội là ông Bùi Văn C là người có công với cách mạng đã từng tham gia chiến đấu ở các mặt trận Đường 9 và Quảng trị, được tặng thưởng nhiều danh hiệu. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại các điểm i,s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt chính, hình phạt bổ sung:

Về hình phạt chính:

- Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy rằng cần căn cứ điều 38 Bộ luật hình sự cách ly bị cáo Bùi Mạnh P khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có đủ điều kiện cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội, tuy nhiên cũng xem xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, người bị hại cũng có lỗi trong vụ án vì vậy cần áp dụng điều 54 Bộ luật Hình sự để xét xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Bùi Đan T1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ vì vậy chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ đối với bị cáo cũng có đủ điều kiện cải tạo thành người có ích cho xã hội. Theo quy định tại khoản 3, điều 36 Bộ luật Hình sự “Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Việc khấu trừ thu nhập được thực hiện hàng tháng” tuy nhiên xét thấy bị cáo là người dân tộc, bản thân không có việc làm sống phụ thuộc vào gia đình, gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo vì vậy cần miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo trong thời gian chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự, thì bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Thấy rằng bản thân bị cáo Bùi Mạnh P và gia đình hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thuộc hộ cận nghèo, bị cáo không có công việc cụ thể vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung.

Đối với bị cáo Bùi Đan T1 không áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đối với 01 Đăng ký xe mô tô mang tên Bùi Đan T1 và 01 xe mô tô BKS: 28FN-013.21 là tài sản và giấy tờ chứng minh chủ sở hữu của bị cáo Bùi Đan T1 vì vậy trả lại cho bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Đại diện người bị hại anh Bùi Văn L1 đã thỏa thuận nhận bồi thường tổng số số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) từ ông Bùi Văn N là bố đẻ bị cáo Bùi Mạnh P nay đã nhận đủ tiền và không yêu cầu bồi thường gì về trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Đối với thiệt hại xe mô tô biển kiểm soát 28FN-013.21 bị cáo Bùi Đan T1 không yêu cầu bồi thường gì vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo bị kết án vì vậy phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điều 135 và 136 BLTTHS. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự.

[9] Về các vấn đề khác:

Đối với thương tích của bị cáo Bùi Đan T1 bị cáo có đơn từ chối giám định và không yêu cầu xem xét gì vì vậy không đề cập giải quyết.

Đối với số tiền 150.000.000đ ông Bùi Văn N là bố đẻ bị cáo Bùi Mạnh P đã bỏ ra bồi thường cho người bị hại Bùi Văn Đ do anh Bùi Văn L1 đại diện bị hại nhận, nay ông Bùi Văn N không yêu cầu bị cáo phải trả lại vì vậy không đề cập giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Bùi Mạnh P phạm tội ‘Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo Bùi Đan T1 phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a,b, khoản 2, Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 54, Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo: Bùi Mạnh P 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/3/2024.

Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 264; điểm i,s khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với Bùi Đan T1;

Xử phạt bị cáo Bùi Đan T1 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án và bản án. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo. Giao bị cáo cho UBND xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình quản lý, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Điều 99 Luật thi hành án hình sự.

Trường hợp bị cáo Bùi Đan T1 vắng mặt hoặc thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

2. Về biện pháp tư pháp:

Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tòa án trả lại cho bị cáo Bùi Đan T1 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy xe máy số: 28 000297 mang tên Bùi Đan T1 cho bị cáo Bùi Đan T1.

Trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 28FN-013.21 loại xe HONDA cho bị cáo Bùi Đan T1. Tình trạng vật chứng có đặc điểm mô tả cụ thể tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/8/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thủy.

3. Án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016. Buộc các bị cáo Bùi Mạnh PBùi Đan T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Hòa Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Yên Thủy;
  • - CA huyện Yên Thủy;
  • - CQTHAHS
  • - Chi cục THADS huyện Yên Thủy;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp
  • của người bị hại;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đã ký

Lê Trung Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Mạnh P và đồng phạm phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger