Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST

Ngày 20 tháng 6 năm 2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và

gia đình, ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đại Nam.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Thanh Phương, bà Ngô Thị Lệ Thi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 98/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXS-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2024/QÐST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang, (có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Huỳnh Thanh V, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ A, ấp M, xã V, thành phố C, tỉnh An Giang, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T trình bày: Bà T và ông Vũ t tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn năm 1998 tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố C. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã, ông V thường xuyên uống rượu, về nhà đập phá đồ trong nhà, đánh đập vợ con. Hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm không thể hàn gắn được nên bà T yêu cầu ly hôn với ông V.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có 04 con chung tên Huỳnh Bé N, sinh ngày 10/3/1999, Huỳnh Thanh N1, sinh ngày 15/01/2022 (đã trưởng thành và có khả năng lao động), Huỳnh Thị Huỳnh N2, sinh ngày 11/12/2012 và Huỳnh Thanh L, sinh ngày 30/5/2022. Hiện nay cháu N2 và L do bà T nuôi dạy, bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Huỳnh Thanh V trình bày: Thống nhất về thời gian và điều kiện đi đến hôn nhân như bà T trình bày. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng năm 2020, bà T có quan hệ tình cảm với người khác và do công việc của vợ chồng có thu nhập thấp nên bất hòa, thường xuyên cãi nhau và đã không còn sống chung từ khoảng tháng 02/2024 cho đến nay. Ông V xác định vẫn còn tình cảm với bà T, mong muốn được hàn gắn tình cảm vợ chồng nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Trường hợp, Tòa án cho ly hôn ông đồng ý giao 02 con chung chưa trưởng thành là Huỳnh N2 và Thanh L cho bà T nuôi dạy, ông V không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung không có; Về nợ chung, vợ chồng có nợ số tiền 161.000.000 đồng, cụ thể: Nợ ông Sáu N3 110.000.000 đồng tiền mua vật tư nông nghiệp (làm ruộng thua lỗ), nợ ông Huỳnh Công B (chú ruột của ông V) số tiền 30.000.000 đồng tiền thuê đất, nợ bà Huỳnh Thị Bé S 21.000.000 đồng tiền chi tiêu, sinh hoạt trong gia đình. Ông V sẽ thỏa thuận với bà T, không yêu cầu giải quyết.

Do bận công việc nên ông V xin được vắng mặt khi Tòa án triệu tập để tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và khi vụ án được đưa ra xét xử.

Tại phiên tòa,

  • - Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T vẫn giữ yêu cầu khởi kiện như đã trình bày trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

  • - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về xét sử sơ thẩm vụ án.
  • - Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên xem như từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình và thuộc trường hợp xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
  • - Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Hôn nhân của bà T với ông V là do tự tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V nên được xem là hôn nhân hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng. Trong thời kỳ hôn nhân giữa bà T với ông V phát sinh mâu thuẫn và không còn chung sống với nhau từ khoảng tháng 02/2024 đến nay. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng ông V có yêu cầu vắng mặt cho rằng bận việc nên không thể tiến hành hòa giải, bà T cương quyết yêu cầu ly hôn. Điều đó chứng tỏ, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, có kéo dài cuộc hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt. Do đó, bà T yêu cầu được ly hôn với ông V là có căn cứ.

Về con chung trong thời kỳ hôn nhân: Đối với Huỳnh Bé N (sinh năm 1999), Huỳnh Thanh N1 (sinh năm 2002) đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không đề cặp; Đối với các con chung Huỳnh Thị Huỳnh N2 (sinh ngày 11/12/2012) và Huỳnh Thanh L (sinh ngày 30/5/2022) bà T yêu cầu được nuôi dạy 02 con chung; ông V đồng ý để bà T tiếp tục nuôi dạy các con chung nếu trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn; con chung Huỳnh N2 có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng mẹ. Do đó, để ổn định cuộc sống cho các con chung thì cho bà T được tiếp tục nuôi dạy Huỳnh N2 và Thanh L là phù hợp quy định pháp luật cũng như nguyện vọng con chung. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T về việc không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung.

Tài sản chung: Bà T, ông V xác định vợ chồng không tài sản chung nên không đề cặp; Nợ chung: Bà T, ông Vũ t thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không đề cặp.

Từ phân tích trên, căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà T được ly hôn với ông V; bà T được nuôi con chung 02 con chung tên Huỳnh Thị Huỳnh N2, sinh ngày 11/12/2012 và Huỳnh Thanh L, sinh ngày 30/5/2022; ông V không cấp dưỡng nuôi con chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

  1. Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông V, Bị đơn ông V có nơi cư trú ấp M, xã V, thành phố C. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn ông V có yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về nội dung

  1. Về hôn nhân: Bà T và ông V kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, thành phố C, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2011, quyển số 01/2011 ngày 26/8/2011 nên là hôn nhân hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Theo lời khai của bà T, ông V đều xác định quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau và đã không còn sống chung từ tháng 02/2024 cho đến nay. Thời gian sống xa cách, vợ chồng vẫn không chủ động để hàn gắn tình cảm, đồng thời ông V không đồng ý ly hôn, cho rằng vẫn còn tình cảm với bà T nhưng lại xin vắng mặt khi Tòa án tiến hành hòa giải, xét xử là chưa có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Từ đó cho thấy hôn nhân giữa bà T và ông V đã lâm vào tình trạng trầm trọng, có kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích hôn nhân cũng không đạt. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T về việc ly hôn với ông V theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

  1. Về con chung: Bà T và ông V thống nhất có 04 con chung, em Huỳnh Bé N, sinh ngày 10/3/1999 và Huỳnh Thanh N1, sinh ngày 15/01/2002, đều đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không đề cập giải quyết. Em Huỳnh Thị Huỳnh N2, sinh ngày 11/12/2012 và Huỳnh Thanh L, sinh ngày 30/5/2022 do bà T đang nuôi dạy và bà T có yêu cầu tiếp nuôi 02 con. Ông V đồng ý giao 02 con cho bà T nuôi dạy nếu trường hợp Tòa án giải quyết ly hôn. Xét thấy, bà T có yêu cầu được nuôi con và phù hợp với nguyện vọng của em Như nên để ổn định môi trường sống cũng như sinh hoạt của con chung, Hội đồng xét xử xét quyết định giao 02 con chung là N2 và L cho bà T tiếp tục nuôi dạy cho đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động.
  2. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này của bà T.
  3. Về tài sản chung: Bà T, ông V thống nhất khai không có nên không xem xét, giải quyết.
  4. Về nợ chung: Bà T, ông V thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. Về án phí: Bà T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ông V không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ vào các Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thanh T.

  1. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị Thanh T được ly hôn với ông Huỳnh Thanh V.
  2. Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2011, quyển số 01/2011 ngày 26/8/2011 của Ủy ban nhân dân xã V, thị xã C (nay là thành phố C), tỉnh An Giang không còn giá trị pháp lý.

  3. Về con chung: Bà Phạm Thị Thanh T được tiếp tục nuôi dạy 02 con chung tên Huỳnh Thị Huỳnh N2, sinh ngày 11/12/2012 và Huỳnh Thanh L, sinh ngày 30/5/2022 cho đến khi thành niên và có khả năng lao động. Ông Huỳnh Thanh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  4. Bà Phạm Thị Thanh T cùng các thành viên gia đình (nếu có) phải tạo điều kiện và không ai được cản trở ông Huỳnh Thanh V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, hạn chế quyền thăm nom con chung, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

  5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
  6. Bà Phạm Thị Thanh T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0003321 ngày 18 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc; bà T đã nộp đủ án phí

    Ông Huỳnh Thanh V không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà Phạm Thị Thanh T có quyền kháng cáo Tòa án nhân dân tỉnh An Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông Huỳnh Thanh V là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Châu Đốc (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS TP.Châu Đốc (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã, phường nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Đại Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thanh T. Bà Phạm Thị Thanh T được ly hôn với ông Huỳnh Thanh V.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger