|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 29-8-2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Bạt Hào
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Ngọc Lý
Ông Nguyễn Văn Đời
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Trà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tham gia phiên Tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên – Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 148/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/2024/QĐST- HNGĐ ngày 16/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Kim Nhung, sinh năm 1989; Nơi cư trú: thôn Thiên Vân 2, xã Vĩnh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Bị đơn: ông Nguyễn Văn Được, sinh năm 1984; Nơi cư trú: số 51 Nguyễn Thị Định, phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng
(Cả hai có mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 16/7/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim Nhung trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: bà và ông Được đăng ký kết hôn vào năm 2016 tại UBND xã Phú Thuận, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm sống khác nhau, ông Được thường xuyên bài bạc do đó hai vợ chồng thường xuyên cãi vã. Gia đình hai bên đã cố gằng hòa giải nhưng tình trạng mâu thuẫn vợ chồng vẫn không cải thiện. Hiện nay hai vợ chồng sống ly thân, không có trách nhiệm gì với nhau. Trước đây bà đã làm đơn xin ly hôn 1 lần nhưng sau đó vì gia đình con cái bà rút đơn, sau khi rút đơn nhưng vợ chồng vẫn không đoàn tụ với nhau. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện nay vợ chồng sống ly thân nên bà xin được ly hôn ông Được.
- Về con chung: bà và ông Được có 02 con chung Nguyễn Tuệ Lâm, sinh ngày 02/10/2016; Nguyễn Quốc Việt, sinh ngày 02/3/2020. Ly hôn bà xin nhận cháu Việt và đồng ý giao cháu Lâm cho ông Được nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có.
2. Bị đơn ông Nguyễn Văn Được trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: ông xác nhận lời trình bày của bà Nhung về thời gian kết hôn và địa điểm đăng ký kết hôn là đúng. Sau khi kết hôn hai vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, ông thừa nhận vợ chồng sống ly thân, vợ chồng không có trách nhiệm với nhau. Nay bà Nhung xin ly hôn, ông không đồng ý ly hôn, vì ông xét thấy con còn nhỏ nên mong bà Nhung quay về đoàn tụ để cũng nhau nuôi dạy con cái.
- Về con chung: ông và bà Nhung có 02 chung Nguyễn Tuệ Lâm, sinh ngày 02/10/2016; Nguyễn Quốc Việt, sinh ngày 02/3/2020. Nếu trường hợp Toà án cho ly hôn ông đồng ý giao cháu Việt cho bà Nhung nuôi dưỡng. Ông xin nhận nuôi cháu Lâm, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết
- Về nợ chung: Không có.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án Căn cứ vào các điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; các điều 147, 227, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.
- Chấp nhận đơn khởi kiện về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” của bà Nguyễn Thị Kim Nhung đối với ông Nguyễn Văn Được;
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim Nhung được ly hôn ông Nguyễn Văn Được.
- Về con chung: Giao con Nguyễn Tuệ Lâm, sinh ngày 02/10/2016 cho ông Nguyễn Văn Được trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con Nguyễn Quốc Việt, sinh ngày 02/3/2020 cho bà Nguyễn Thị Kim Nhung trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Kim Nhung nộp tại Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng và Tòa án đã thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền được quy định tại Điều 28; Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: bà Nguyễn Thị Kim Nhung và ông Nguyễn Văn Được kết hôn vào năm 2016 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Thuận, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim Nhung cho rằng, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do tính tình không hợp, ông Được bài bạc không lo tu chí làm ăn và đánh đập bà. Năm 2023 bà đã nộp đơn ra Toà án một lần sau đó bà rút đơn đoàn tụ nhưng ông Được vẫn không thay đổi nên hai vợ chồng thường xuyên cãi vã, vợ chống hiện sống ly thân, không có trách nhiệm gì với nhau. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn Được.
Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã động viên bà Nhung về tiếp tục sống chung với ông Nguyễn Văn Được để cùng nhau nuôi dạy con chung và xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng bà Nhung vẫn giữ nguyên yêu cầu kiên quyết xin được ly hôn đối với ông Nguyễn Văn Được.
Xét thấy, mâu thuẩn giữa hai vợ chồng đã đến mức không thể hàn gắn được. Kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành hoà giải cho hai vợ chồng đoàn tụ nhưng hai vợ chồng vẫn không đoàn tụ, ông Được thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng, hai vợ chồng sống ly thân nhưng ông không đồng ý ly hôn nhưng ông cũng không đưa ra được phương án nào để bà Nhung quay về đoàn tụ. Xét thấy mâu thuẩn giữa bà Nhung và Được đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX xét thấy cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho bà Nguyễn Thị Kim Nhung được ly hôn với ông Nguyễn Văn Được là thỏa đáng.
- Về con chung: bà Nhung và ông Được có 02 con chung, Nguyễn Tuệ Lâm, sinh ngày 02/10/2016; Nguyễn Quốc Việt, sinh ngày 02/3/2020. Ly hôn, bà Nhung xin nhận nuôi cháu Việt và đồng ý giao cháu Lâm cho ông Được nuôi dưỡng. Tại phiên toà ông Được cũng đồng ý nhận nuôi cháu Lâm và đồng ý giao cháu Việt cho bà Nhung nuôi dưỡng nếu Toà án cho ly hôn. Xét thấy hiện nay cháu Lâm đang sống với ông Được và học tập tại Đà Nẵng, cháu Việt còn nhỏ hiện ở với bà Nhung. Do đó để không làm xáo trộn cuộc sống, học hành của con chung phù hợp với nguyện vọng của bà Nhung ông Được nên giao cháu Lâm cho ông Được nuôi dưỡng và giao cháu Việt cho bà Nhung nuôi dưỡng là phù hợp với khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, không bên nào yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: bà Nguyễn Thị Kim Nhung phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình; các điều 147, 227, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí tòa án.
- Chấp nhận đơn khởi kiện về việc: “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” của bà Nguyễn Thị Kim Nhung đối với ông Nguyễn Văn Được;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim Nhung được ly hôn ông Nguyễn Văn Được.
- Về con chung: Giao con Nguyễn Tuệ Lâm, sinh ngày 02/10/2016 cho ông Nguyễn Văn Được trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con Nguyễn Quốc Việt, sinh ngày 02/3/2020 cho bà Nguyễn Thị Kim Nhung trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.
Sau ly hôn, các bên có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập đến.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ bà Nguyễn Thị Kim Nhung phải chịu. Nhưng được khấu trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002745 ngày 18/7/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng. bà Nhung đã nộp đủ án phí.
Báo cho các bên đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay.
Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nơi nhận:
|
Đinh Bạt Hào |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: nhung duoc cho ly hon
