Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/DS-ST

Ngày: 19 – 8 – 2024

V/v “Tranh chấp đất đai,

yêu cầu hủy giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Tám

Ông Phan Đình Khiêm

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Mai Chăm - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 58/2021/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2021 về việc “Tranh chấp đất đai, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2024 và theo Quyết định hoãn phiên tòa số 39/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1970

Địa chỉ: Số nhà A, Quốc lộ E, thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Út H, sinh năm 1992. Địa chỉ: D T, phường T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Công ty Cổ phần Đ

Địa chỉ: Quốc lộ E, thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Trí T1, sinh năm 1981. Địa chỉ: P, Tầng I, Chung cư D N, phường N, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền ngày 16/8/2024)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân tỉnh B
  2. Địa chỉ: Số D H, phường B, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Ngọc N – Phó Chi cục trưởng Chi cục Quản lý đất đai tỉnh B. (Theo văn bản ủy quyền ngày 04/4/2024)

  3. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1972
  4. Địa chỉ: Số nhà A, Quốc lộ E, thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T2: Bà Nguyễn Thị Út H.

  5. Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận
  6. Địa chỉ: Xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Thanh S – Phó Chủ tịch UBND xã T.

Tại phiên tòa có mặt các đương sự.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn ông Nguyễn Văn P và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Út H trình bày:

Năm1995, ông Nguyễn Văn P khai phá thửa đất có diện tích hơn 12.000m², tọa lạc tại thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Sau khi khai phá, ông P trồng lúa và sử dụng ổn định đến nay, không ai tranh chấp.

Năm 2018, ông P tiến hành nộp hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được biết diện tích 10.069,9m² thuộc một phần thửa đất ông P khai phá đã được Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016 cho Công ty Cổ phần Đ vào ngày 26/11/2008 thuộc thửa đất số 176, tờ bản đồ số 06, diện tích 137796,2m², tọa lạc tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 11/9/2019, Ủy ban nhân dân xã T có biên bản họp của Hội đồng tư vấn giao đất và xác định tính pháp lý của Ủy ban nhân dân xã T. Đến ngày 13/9/2019 và ngày 16/9/2019, Ủy ban nhân dân xã T có báo cáo số 103/BC-UBND về việc xem xét tính pháp lý đất ông Nguyễn Văn P trong dự án của Công ty Đ. Theo báo cáo, hội đồng xác định thửa đất trên là do ông P khai phá và thống nhất đề nghị thu hồi, điều chỉnh giấy chứng nhận đã cấp cho Công ty cổ phần Đ. Đồng thời, đề nghị Ủy ban nhân dân huyện H, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện H xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông P.

Ngày 15/10/2019, Ủy ban nhân dân huyện H có công văn số 3438/UBND-TNMT gửi Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B về việc có ý kiến về nguồn gốc, thời điểm, mục đích sử dụng đất của ông P.

Theo Công văn số 3438/UBND-TNMT xác định: “Nguồn gốc thửa đất (thửa số 08, tờ bản đồ trích lục số 02, diện tích 10.069,9m² ) do ông Nguyễn Văn P khai hoang năm 1995, sử dụng ổn định vào mục đích trồng lúa. Qua kiểm tra hồ sơ pháp lý của Công ty Đ thì vị trí đất của ông Nguyễn Văn P (đang khiếu nại) đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016 ngày 26/11/2008 cho Công ty Cổ phần Đ. Hiện nay, ông Nguyễn Văn P là hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp, chưa vượt hạn mức giao đất nông nghiệp. Hội đồng thống nhất đề nghị thu hồi, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho Công ty Cổ phần Đ, đồng thời đề nghị xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn P.”

Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016 do UBND tỉnh B cấp cho Công ty Cổ phần Đ vào ngày 26/11/2008 thuộc thửa đất số 176, tờ bản đồ số 06 đối với diện tích 10.041,0m², toạ lạc tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
  • Xác định ông Nguyễn Văn P được quyền sử dụng hợp pháp thửa đất có diện tích 10.041,0m², toạ lạc tại thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

Trong quá trình tham gia tố tụng vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Trần Trí T1 trình bày:

Công ty Cổ phần Đ đã được Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016 vào ngày 26/11/2008 thuộc thửa đất số 176, tờ bản đồ số 06, diện tích 137.796,2m², tọa lạc tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận là đúng theo quy định của pháp luật. Công ty không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân tỉnh B ủy quyền cho Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B có văn bản trình bày ý kiến tại Công văn số 1178/STNMT-CCQLĐĐ ngày 13/3/2024 như sau:

Nguồn gốc, quá trình sử dụng đất tranh chấp có diện tích 10.041,0m² đất tọa lạc tại thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận:

Theo trích lục bản đồ địa chính do Chi nhánh văn phòng Đ1 ngày 29/3/2022 thì phần đất mà ông Nguyễn Văn P tranh chấp với cổ phần Đ có diện tích đo thực tế là 10.041,0m².

Qua kiểm tra thì diện tích 10.041,0m² mà ông Nguyễn Văn P tranh chấp với Cổ phần Đồng Phú H1 - Bình Thuận nằm trong diện tích Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp cho Công ty cổ phần Đ ngày 26/11/2008, thửa đất số 176, tờ bản đồ số 06, diện tích 137.796,2m² tại xã Thắng Hải, huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.

Phần diện tích đất mà Nguyễn Văn P có tranh chấp, khiếu kiện nằm trong diện tích đất do UBND xã T quản lý.

Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016 vào ngày 26/11/2008:

Dự án đầu tư trang trại sản xuất nông lâm thủy sản kết hợp của Công ty Cổ phần Đ tại xã T (nay là xã T), huyện H (trước là Công ty TNHH Đ) được UBND tỉnh B chấp thuận chủ trương đầu tư tại Công văn số 3634/UBND-KT ngày 09/9/2005.

Chủ đầu tư lập hồ sơ xin giao đất và được UBND tỉnh có Quyết định số 684/QĐ-UBND ngày 11/3/2008 thu hồi 575.544,5m² đất do UBND xã T quản lý (gồm: 193.561,8 m² đất có mặt nước chuyên dùng; 233.859,1 m² đất chưa sử dụng và 148.123,6 m² đất dân bao chiếm, chủ đầu tư đã hỗ trợ công khai hoang) và giao diện tích đất nêu trên cho Công ty TNHH Đ để thực hiện dự án đầu tư trang trại sản xuất nông lâm thủy sản kết hợp; với hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất.

Sau đó, dự án có điều chỉnh tên chủ đầu tư và được UBND tỉnh có Quyết định số 2637/QĐ-UBND ngày 03/10/2008 điều chỉnh tên người sử dụng đất từ Công ty TNHH Đ thành Công ty cổ phần Đ.

Căn cứ Quyết định số 684/QĐ-UBND ngày 11/3/2008 và Quyết định số 2637/QĐ-UBND ngày 03/10/2008 của UBND tỉnh. Theo Thông báo số 1411 ngày 10/7/2008 của Cục Thuế tỉnh B, Công ty cổ phần Đ đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính về đất đai.

Sở T (theo ủy quyền của UBND tỉnh) cấp 08 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 26/11/2008 cho Công ty cổ phần Đ; trong đó có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016.

Như vậy, việc giao đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty Cổ phần Đ (trong đó có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016) là đã thực hiện theo đúng quy định của Luật Đất đai.

Phần diện tích 10.041,0m² mà ông Nguyễn Văn P tranh chấp, khiếu kiện với Cổ phần Đồng Phú H1 - Bình Thuận nằm trong diện tích Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016 thuộc quyền quản lý, sử dụng đất của Công ty cổ phần Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm vụ án:

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Người tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 34, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Khoản 4 Điều 21, điểm a khoản 2 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; điểm d khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P về việc: Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp cho Công ty Cổ phần Đ ngày 26/11/2008 thuộc thửa đất số 176, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Xác định ông Nguyễn Văn P được quyền sử dụng hợp pháp thửa đất có diện tích 10.041,0m², toạ lạc tại thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng của các bên đương sự tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bị đơn, xác định diện tích đất thuộc quyền sở hữu hợp pháp của nguyên đơn; Tài sản tranh chấp và các đương sự đều cư trú tại huyện H, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp đất đai, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 32 Luật Tố tụng hành chính, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

[2] Về diện tích đất tranh chấp:

Nguyên đơn trình bày trước đây có khai phá thửa đất có diện tích hơn 12.000m², tọa lạc tại thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Tuy nhiên, trong diện tích đất hơn 12.000m² thì có 10.041,0m² thuộc vào diện tích đất của phía bị đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên Hội đồng xét xử xác định diện tích đất tranh chấp trong vụ án là 10.041,0m² theo Trích lục bản đồ địa chính ngày 29/3/2022 và Mảnh chỉnh lý thửa đất số 59, 60, tờ bản đồ số 25 như ý kiến thống nhất của các đương sự.

[3] Về yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất:

[3.1] Theo nguyên đơn ông Nguyễn Văn P xác định vào năm 1995, ông có khai phá thửa đất có diện tích hơn 12.000m², tọa lạc tại thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Sau khi khai phá đất, ông P trồng lúa và sử dụng ổn định đến nay, không có ai tranh chấp. Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc ngày 25/02/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận ghi nhận hiên trạng đất tranh chấp là ruộng trống có nước. Việc trình bày về nguồn gốc đất là do nguyên đơn khai phá, trồng lúa nước được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận là đúng tại Đơn xin xác nhận nguồn gốc đất ngày 22/02/2021 của ông Nguyễn Văn P. Đồng thời, Ủy ban nhân dân xã T cũng xác nhận rằng hộ ông Nguyễn Văn P hiện đang trực tiếp sử dụng, quản lý phần diện tích đất nêu trên tại Đơn xin xác nhận ngày 12/8/2024 của ông P.

[3.2] Tại Biên bản Họp hội đồng tư vấn giao đất và xác định tính pháp lý của UBND xã T ngày 11/9/2019 thể hiện: Nguồn gốc sử dụng đất của ông Nguyễn Văn P kê khai thửa đất số 08, tờ bản đồ số 02, tổng diện tích 10.069,9m² là do ông P khai hoang từ năm 1995, đất sử dụng ổn định vào mục đích trồng lúa. Qua kiểm tra thì vị trí đất của ông Nguyễn Văn P thuộc một phần của thửa đất số 176, tờ bản đồ số 06 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty Đ.

Như vậy, có đủ cơ sở xác định nguồn gốc diện tích đất tranh chấp 10.041,0m² do ông Nguyễn Văn P khai hoang, sử dụng, quản lý ổn định, liên tục từ năm 1995 đến nay, không xảy ra tranh chấp. Ông P yêu cầu Tòa án xác định ông được quyền sử dụng thửa đất có diện tích 10.041,0m² tọa lạc tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận là có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

[4.1] Theo trích lục bản đồ địa chính ngày 29/3/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ1, diện tích đất tranh chấp trong vụ án được xác định là 10.041,0m², tọa lạc tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Công ty Cổ phần Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016 đối với thửa đất số 176, tờ bản đồ số 06, diện tích 137.796,2m², tọa lạc tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Theo tài liệu, chứng cứ do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B cung cấp cho Tòa án bản đồ chồng ghép ranh giới, mốc giới giữa thửa đất tại mảnh trích lục do Chi nhánh Văn phòng Đ1 ban hành ngày 29/3/2022 với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016 ngày 26/11/2008 cấp cho Công ty Cổ phần Đ đã thể hiện diện tích đất theo giấy chứng nhận của bị đơn đã chồng lấn lên diện tích 10.041,0m² có nguồn gốc do nguyên đơn ông Nguyễn Văn P khai phá, trực tiếp quản lý, sử dụng.

[4.2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân tỉnh B ủy quyền cho Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B có văn bản ý kiến phần đất tranh chấp mà ông Nguyễn Văn P khởi kiện nằm trong phần diện tích đất do Ủy ban nhân dân xã T quản lý. Tuy nhiên, tại Biên bản Họp của Hội đồng tư vấn giao đất và xác định tính pháp lý của UBND xã T ngày 11/9/2019 đã xác định: Thửa đất có diện tích 10.069,9m² tọa lạc tại thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận do ông Nguyễn Văn P khai hoang thuộc một phần của thửa đất số 176, tờ bản đồ số 06 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho công ty Đ tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016 ngày 26/11/2008. Hội đồng thống nhất đề nghị thu hồi, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho công ty cổ phần Đ, đồng thời đề nghị cấp trên căn cứ quy định của pháp luật xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn P. Như vậy, ý kiến của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B và Ủy ban nhân dân xã T có sự mâu thuẫn về việc xác định tính pháp lý của thửa đất tranh chấp. Ủy ban nhân dân xã là cơ quan nắm rõ về nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất của các cá nhân, tổ chức tại địa phương.

[4.3] Như nhận định tại mục [3] nguồn gốc thửa đất tranh chấp có diện tích 10.041,0m² là do nguyên đơn ông Nguyễn Văn P khai hoang, sử dụng ổn định liên tục từ năm 1995 đến nay. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty Cổ phần Đ – Bình Thuận thì diện tích đất này đang do ông P trực tiếp quản lý, sử dụng. Ủy ban nhân dân tỉnh B chưa xác định rõ nguồn gốc sử dụng đất và đối tượng sử dụng đất mà đã cấp giấy chứng nhận cho bị đơn là không đúng quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn theo quy định tại khoản 4 Điều 21, điểm a khoản 2 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai và điểm d khoản 2 Điều 106 Luật đất đai năm 2013.

Khoản 4 Điều 21 quy định: “...4. Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất....”

Và điểm a khoản 2 Điều 70 quy định:

“...2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam đề nghị đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và thực hiện các công việc như sau:

a) Trường hợp đăng ký đất đai thì xác nhận hiện trạng sử dụng đất so với nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định này thì xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch....”

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp ngày 26/11/2008 cho Công ty Cổ phần Đ thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai 2013:

“Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai...”

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp ngày 26/11/2008 cho Công ty Cổ phần Đ đối với diện tích 10.041,0m² thuộc thửa đất số 176, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

[5] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016 ngày 26/11/2008 đối với phần diện tích đất thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn là 10.041,0m². Tuy nhiên, theo Công văn số 196/TANDTC-PC ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử thì trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ cấp chung cho một thửa đất mà có sai sót thì Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện và tuyên hủy toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải tuyên hủy toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016 ngày 26/11/2008 để các đương sự thực hiện việc cấp lại giấy chứng nhận theo đúng quy định của pháp luật về đất đai.

[6] Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tại phiên tòa trùng với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí tố tụng và đã nộp đủ.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn ông Nguyễn Văn P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn Công ty Cổ phần Đ phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 34, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính;

Khoản 4 Điều 21, điểm a khoản 2 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; điểm d khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn P về việc:
    • Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 788016 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp cho Công ty Cổ phần Đ ngày 26/11/2008 thuộc thửa đất số 176, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.
    • (Đính kèm Mảnh chỉnh lý thửa đất số 59, 60, tờ bản đồ số 25 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B).

    • Xác định ông Nguyễn Văn P được quyền sử dụng hợp pháp thửa đất có diện tích 10.041,0m², toạ lạc tại thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

    Các đương sự liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  2. Về án phí:
    • Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn ông Nguyễn Văn P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Văn P số tiền tạm ứng án phí 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008143 ngày 20/10/2021 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
    • Bị đơn Công ty Cổ phần Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn P tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc, ông P đã nộp đủ.
  4. Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai. Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Cục THADS tỉnh Bình Thuận;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Văn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/DS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp đất đai, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 41/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đất đai, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn P kiện Công ty Đồng Phú H về việc "Tranh chấp đất đai, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger