TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST Ngày: 19-8-2024. V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI - TỈNH NINH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vân Thị Thu Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Thơ và bà Đỗ Thị Minh Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thụy Anh Đào- Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cảnh– Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 91/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/3/2024 về việc tranh chấp "Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị K, sinh năm: 1998 (Có mặt).
Bị đơn: Ông Lê Thanh T, sinh năm: 1997 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã Phương Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị K trình bày:
Bà và ông Lê Thanh T tiến tới hôn nhân tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương và có đăng ký kết hôn tại UBND xã P vào ngày 02/10/2018. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống tại nhà ba mẹ ông T.
Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Trầm trọng hơn là việc ông T có sử dụng ma túy (dạng cỏ), khi bà phát hiện thì ông T chối và còn chửi bà. Bà và cha mẹ ông T có khuyên ngăn nhưng ông T không chịu bỏ ma túy.
Khoảng tháng 2/2024, vì bà không mua đồ ăn sáng cho ông T nên ông T đánh bà. Quá bất mãn nên bà mang con về nhà mẹ ruột sinh sống cho đến nay.
Sau một tuần bà bỏ về nhà mẹ ruột sinh sống, ông T có nhắn tin năn nỉ nhưng bà không đồng ý. Từ đó đến nay ông T bỏ mặt mẹ con bà, không chu cấp cho con chung bất cứ đồng nào. Thỉnh thoảng ông bà nội có đến chở các cháu về thăm ông bà, rồi ông T chở các con về nhưng ông T chỉ đứng ngoài cổng, không vào nhà.
Nay nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
Vợ chồng có 02 con chung là Lê Nguyễn Thanh Tr, sinh ngày 01/9/2018 và Lê Minh Q, sinh ngày 25/02/2021. Hiện nay hai con chung đang sống cùng bà. Bà có nguyện vọng được nuôi 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.
Hiện nay bà đang làm công nhân cho công ty may gấu bông tại khu công nghiệp Du Long, thu nhập bình quân hàng tháng là 7.000.000 đồng, ông T hiện đang làm thợ thạch cao thu nhập theo thời vụ nhưng thấp nhất là 8.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lê Thanh T: đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Thư ký, Nguyên đơn đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, riêng Bị đơn vắng mặt. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ kiện này là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải theo quy định tại các điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.2] Tại phiên tòa hôm nay, Bị đơn tiếp tục vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt Bị đơn.
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị K và ông Lê Thanh T kết hôn là do tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Uỷ ban nhân dân xã P, huyện Ninh Hải cấp giấy chứng nhận kết hôn số 51 ngày 02/10/2018, theo quy định của pháp luật đây là hôn nhân hợp pháp.
Tại phiên tòa bà K trình bày: vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn do kinh tế khó khăn; ông T sử dụng ma túy, khi bà bắt gặp thì ông T chối và còn chửi bà. Bà đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng ông T không nghe. Vợ chồng bất đồng quan điểm sống, đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2024 đến nay, bà và ông T không còn quan tâm chăm sóc nhau, mạnh ai nấy sống... Tại biên bản xác minh ngày 12/7/2024 (BL 33) thể hiện: “Quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra cãi vã xô xát nhau nên bà K đã chuyển về nhà cha mẹ ruột sinh sống từ tháng 02/2024 cho đến nay...”.
Xét thấy lời trình bày của bà K phù hợp với biên bản xác minh tại địa phương. Mặt khác, dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T không đến Tòa làm việc, cũng không có ý kiến trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của bà K, chứng tỏ ông T có thái độ bỏ mặc, muốn ra sao thì ra...
HĐXX thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa bà K và ông T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Khoản.
[2.2] Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Lê Nguyễn Thanh Tr, sinh ngày 01/9/2018 và Lê Minh Q, sinh ngày 25/02/2021. Bà K có nguyện vọng được nuôi 02 con chung. Xét thấy: từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay, 02 con chung được bà K trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà K có thu nhập ổn định hàng tháng. Mặt khác ông T không có ý kiến gì trước yêu cầu nuôi con chung của bà K. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển bình thường về thể chất, tinh thần cho các cháu nên HĐXX quyết định giao con chung cho bà K nuôi, ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà K không yêu cầu.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Từ những phân tích, đánh giá như trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa.
[4] Về án phí: bà K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị K. Bà Nguyễn Thị K được ly hôn với ông Lê Thanh T.
Về quan hệ con cái:
Bà Nguyễn Thị K có quyền và nghĩa vụ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là cháu Lê Nguyễn Thanh Tr, sinh ngày 01/9/2018 và cháu Lê Minh Q, sinh ngày 25/02/2021. Ông Lê Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà K không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0000295 ngày 19/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải. Bà K đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm, có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; riêng bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - TAND tỉnh Ninh Thuận;
- - VKSND huyện Ninh Hải;
- - THA dân sự huyện Ninh Hải;
- - UBND xã Phương Hải;
- - Lưu (hồ sơ, án văn)./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Dương Đăng An Hàng Ái Phượng | Vân Thị Thu Sang |
Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI - TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI - TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
