|
TAND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/DS-ST
Ngày 19/7/2024
V/v: “tranh chấp Hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Vịnh, ông Chu Quốc Đạt
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
Đại diện Viện kiểm sát huyện Lạng Giang: Ông Trần Mạnh Sỹ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 37/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2024 về việc “tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QÐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 59/2024/QĐÐST-DS ngày 20/6/2024, giữa:
* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V1)
Địa chỉ: tầng A, tòa nhà S - A P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện theo pháp luật: ông Hàn Ngọc V, chức vụ: Tổng Giám đốc
- Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Hải Đ, chức vụ: Giám đốc xử lý nợ ngoại bảng - Trung tâm quản lý nợ Ngân hàng B.
- Người đại diện theo ủy quyền lại: ông Trần Trọng N, chức vụ: cán bộ Ngân hàng TMCP Q (có mặt)
Địa chỉ: tầng D, tòa nhà C, số D T, quận Đ, Hà Nội
* Bị đơn:
- Anh Phùng Văn H, sinh năm 1979 (vắng mặt)
- Chị Mai Thị H1, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Tuấn L (nay là ông Trần Trọng N) trình bày:
* Ngày 08/4/2022 Ngân hàng TMCP Q (V1) – V1 ký với ông Phùng Văn H, bà Mai Thị H1 hợp đồng tín dụng số 6972539.22 với nội dung:
- Số tiền giải ngân: 424.000.000 đồng (Bốn trăm hai mươi bốn triệu đồng);
- Mục đích giải ngân: Thanh toán tiền mua 01 xe ô tô nhãn hiệu Nissan Almera;
- Thời hạn vay: 72 thángtừ ngày 09/4/2022 đến ngày 08/4/2028;
- Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9,6%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 3 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo quy định của V1 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4,1%/năm;
- Trả nợ gốc: hàng tháng vào ngày 25, mỗi tháng trả 5.903.000 đồng, số còn lại trả vào cuối kỳ;
- Hoàn trả khoản vay gốc: vào ngày 25 hàng tháng; kỳ trả đầu tiên 25/5/2022, mỗi kỳ trả 5.903.000đ; số còn lại trả vào cuối kỳ; hoàn trả lãi vào ngày 25 hàng tháng; trả phí theo quy định của V1 từng thời kỳ; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.
V1 đã giải ngân cho ông Phùng Văn H, bà Mai Thị H1 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ số 6972539(1).22 với số tiền 424.000.000đ theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
* Ngày 18/5/2022 Ngân hàng TMCP Q (V1) – V1 ký với ông Phùng Văn H, bà Mai Thị H1 hợp đồng tín dụng số 6424975.22 với nội dung:
- Số tiền giải ngân: 555.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi lăm triệu đồng);
- Mục đích giải ngân: Thanh toán tiền mua 01 xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI Xpander;
- Thời hạn vay: 96 thángtừ ngày 19/5/2022 đến ngày 18/5/2030;
- Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 9,9%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 3 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo quy định của V1 tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4,1%/năm;
- Trả nợ gốc: hàng tháng vào ngày 20, mỗi tháng trả 5.782.000 đồng, số còn lại trả vào cuối kỳ;
- Hoàn trả khoản vay gốc: vào ngày 20 hàng tháng; kỳ trả đầu tiên 20/6/2022, mỗi kỳ trả 5.782.000đ; số còn lại trả vào cuối kỳ; hoàn trả lãi vào ngày 20 hàng tháng; trả phí theo quy định của V1 từng thời kỳ; lãi quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.
V1 đã giải ngân cho ông Phùng Văn H, bà Mai Thị H1 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ số 6424975(1).22 với số tiền 555.000.000đ theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông Phùng Văn H, bà Mai Thị H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh. Tạm tính đến ngày 24/7/2023, ông Phùng Văn H và bà Mai Thị H1 đã thanh toán cho VIB số tiền là 167.267.599đ (trong đó: tiền gốc là 99.397.615đ; tiền lãi là 67.869.984đ).
VIB khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm:
- Yêu cầu anh Phùng Văn H và chị Mai Thị H1 phải thanh toán cho VIB số tiền tạm tính đến ngày 24/7/2023 là 936.856.017₫ (Chín trăm ba mươi sáu triệu tám trăm năm mươi sáu nghìn không trăm mười bẩy đồng), trong đó gồm có:
- - Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 6972539.22 ngày 08/4/2022 là 396.484.048₫ (trong đó: nợ gốc là 370.873.000đ; nợ lãi là 23.219.852d);
- - Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 6424975.22 ngày 18/5/2022 là 540.371.969₫ (trong đó: nợ gốc là 508.729.385đ; nợ lãi là 29.215.032₫);
- Yêu cầu ông H, bà H1 phải thanh toán trả tiền lãi quá hạn kể từ ngày 25/7/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất tại Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ đã ký.
Bị đơn là anh Phùng Văn H và chị Mai Thị H1 đã được Tòa án giao thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ. Nhưng anh H, chị H1 không có văn bản trình bày ý kiến đối với các yêu cầu của nguyên đơn và vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải nhưng anh H, chị H1 đều vắng mặt mà không có lý do nên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Trọng N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của V1 là yêu cầu buộc vợ chồng anh H, chị H1 phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả cho V1 số tiền còn nợ tính đến ngày 19/7/2024 là 1.114.271.605đ; yêu cầu anh H, chị H1 phải tiếp tục trả lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 20/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng và Kế ước nhận nợ đã ký kết.
Bị đơn là anh Phùng Văn H và chị Mai Thị H1 vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật và trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án:
: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình điều tra giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật.
- Nội dung giải quyết vụ án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của V1: Buộc vợ chồng anh Phùng Văn H, chị Mai Thị H1 phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả cho V1 số tiền tính đến ngày xét xử sơ thẩm 19/7/2024 là 1.114.271.605đ và tiền lãi quá hạn kể từ ngày 20/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký kết.
Về án phí: Anh H, chị H1 phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa sau khi tiến hành nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Trọng N có mặt; bị đơn là anh Phùng Văn H, chị Mai Thị H1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh H, chị H1 theo quy định tại khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa chủ thể có đăng ký kinh doanh với cá nhân anh Phùng Văn H và chị Mai Thị H1 có nơi cư trú tại xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên là quan hệ pháp luật dân sự, các bên đã không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục tại Tòa án. Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang giải quyết là phù hợp với quy định của pháp luật và thẩm quyền được qui định tại các Điều 26; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quyền khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và quan hệ pháp luật tranh chấp thì thấy:
Giữa VIB và vợ chồng anh Phùng Văn H, chị Mai Thị H1 có ký kết Hợp đồng tín dụng gồm: Hợp đồng tín dụng số 6972539.22 ngày 08/4/2022; Đơn đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ số 6972539(1).22 và Hợp đồng tín dụng số 6424975.22 ngày 18/5/2022; Đơn đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ số 6424975(1).22
Sau khi vay, anh H, chị H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ theo kỳ hàng tháng từ ngày 20/02/2023. Đến ngày 04/10/2023 V1 nộp đơn khởi kiện ra Tòa án yêu cầu anh H, chị H1 phải thanh toán trả số tiền gốc và lãi suất phát sinh trước hạn theo thỏa thuận giữa các bên trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ. Đây là "tranh chấp Hợp đồng tín dụng" theo quy định tại Điều 184; Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, thì VIB có quyền khởi kiện và thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
[4] Về nội dung tranh chấp:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy: Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 6972539.22 ngày 08/4/2022; Đơn đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ số 6972539(1).22 và Hợp đồng tín dụng số 6424975.22 ngày 18/5/2022; Đơn đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ số 6424975(1).22 và các tài liệu, chứng cứ do V1 cung cấp đã xác định:
- Ngày 08/4/2022 V1 có giải ngân cho anh H, chị H1 vay số tiền gốc 424.000.000đ; mục đích vay thanh toán tiền mua 01 xe ô tô nhãn hiệu Nissan Almera; thời hạn vay 72 thángtừ ngày 09/4/2022 đến ngày 08/4/2028; lãi suất: 9,6%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; phương thức thanh toán nợ vay: nợ gốc và lãi trả theo kỳ vào ngày 25 hàng tháng;
- Ngày 18/5/2022 V1 có giải ngân cho anh H, chị H1 vay số tiền gốc 555.000.000đ; mục đích vay thanh toán tiền mua 01 xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI Xpander; thời hạn vay 96 tháng từ ngày 19/5/2022 đến ngày 18/5/2030; lãi suất: 9,9%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn; phương thức thanh toán nợ vay: nợ gốc và lãi trả theo kỳ vào ngày 20 hàng tháng;
Sau khi vay anh H, chị H1 đã thanh toán trả được số tiền 167.267.599đ (trong đó: tiền gốc là 99.397.615đ; tiền lãi là 67.869.984đ) và còn nợ số tiền tính đến ngày 24/7/2023 là 936.856.017₫.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Trọng N yêu cầu anh Phùng Văn H và chị Mai Thị H1 phải thanh toán trả cho V1 số tiền còn nợ tính đến ngày 19/7/2024 là 1.114.271.605đ và tiền lãi quá hạn kể từ ngày 20/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ đã ký kết, bao gồm:
- - Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 6972539.22 ngày 08/4/2022 là 484.641.011₫ (trong đó: nợ gốc là 370.873.000đ; nợ lãi là 27.045.708đ; nợ lãi quá hạn là 86.722.303đ);
- - Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 6424975.22 ngày 18/5/2022 là 629.630.594₫ (trong đó: nợ gốc là 508.729.385đ; nợ lãi là 97.563.308đ; nợ lãi quá hạn là 23.337.901đ);
Như vậy, yêu cầu khởi kiện của V1 đối với anh H, chị H1 về số tiền nợ gốc; nợ lãi và lãi suất là phù hợp với Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên cần được chấp nhận.
[5] Về tài sản bảo đảm gồm: 01 xe ô tô nhãn hiệu NISSAN ALMERA, số khung MNTBAAN18Z0034835, số máy HRA0039390E, màu sơn bạc; biển số 98E – 001.28 theo hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 1721966.22 ngày 08/4/2022 và 01 xe ô tô nhãn hiệu MITSUBISHI, số loại XPANDER, số khung MK2LNNC1WLN008490; số máy 4A91KAC6545, màu sơn: Trắng, biển số 98A-512.89 theo hợp đồng thế chấp phương tiện vận tải số 2464710.22 ngày 18/5/2022. Do VIB không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Anh Phùng Văn H và chị Mai Thị H1 phải chịu toàn bộ tiền án phí theo quy định tại Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.
VIB không phải chịu án phí; hoàn trả VIB số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 351 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 8, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q.
Buộc vợ chồng anh Phùng Văn H, chị Mai Thị H1 phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán trả cho Ngân hàng TMCP Q số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm 19/7/2024 là 1.114.271.605đ (Một tỷ một trăm mười bốn triệu hai trăm bẩy mươi mốt nghìn sáu trăm linh năm đồng), bao gồm:
- - Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 6972539.22 ngày 08/4/2022 là 484.641.011₫ (trong đó: nợ gốc là 370.873.000đ; nợ lãi là 27.045.708đ; nợ lãi quá hạn là 86.722.303₫);
- - Dư nợ theo hợp đồng tín dụng số 6424975.22 ngày 18/5/2022 là 629.630.594₫ (trong đó: nợ gốc là 508.729.385đ; nợ lãi là 97.563.308đ; nợ lãi quá hạn là 23.337.901₫);
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 20/7/2024) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án của từng dư nợ theo mức lãi suất quá hạn được quy định tại Hợp đồng tín dụng số 6972539.22, Đơn đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ số 6972539(1).22 cùng ngày 08/4/2022 và Hợp đồng tín dụng số 6424975.22, Đơn đề nghị giải ngân kiêm kế ước nhận nợ số 6424975(1).22 cùng ngày 18/5/2022.
- Về án phí: Vợ chồng anh Phùng Văn H, chị Mai Thị H1 phải chịu 45.428.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả Ngân hàng TMCP Q số tiền 20.052.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007934 ngày 15/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Sang |
Bản án số 41/2024/DS-ST ngày 19/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 41/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam - HIẾN HOAN HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG
