|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 41/2024/DS-ST Ngày: 19-4-2024. “V/v tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Trinh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Thơ.
2. Ông Nguyễn Phú Hữu.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Phan Minh Trí - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.
Trong ngày 19/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 722/2023/TLST-DS ngày 27/12/2023, về việc “tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-DS ngày 12/3/2024, Quyết định Hoãn phiên tòa số 82/2024/QÐSTDS ngày 27/3/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1960.
Địa chỉ: Số A (số C), Tổ 43, Khóm E, Phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Tổ E, Khóm E, Phường F, thành phố C, Đồng Tháp.
(Bà H có mặt tại phiên tòa, bà T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày: Tháng 02/2022 (không nhớ ngày), bà Phạm Thị H cho bà Nguyễn Thị Thu T vay số tiền 70.000.000 đồng, không có làm biên nhận, thời hạn 03 tháng, bà T hứa mỗi tháng trả cho bà H tiền lãi là 1.500.000 đồng, bà T đã được 02 tháng với số tiền là 3.000.000 đồng.
Đến hạn trả nợ, bà H yêu cầu bà T trả số tiền vay trên nhưng bà T không có tiền trả. Sau đó, bà T yêu cầu bà H thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà H để vay tiền tại Ngân hàng và cho bà T vay thêm số tiền 300.000.000 đồng; bà H đã vay tiền tại Ngân hàng và giao cho bà T số tiền 300.000.000 đồng, bà T hẹn 03 tháng sau khi bán đất sẽ trả cho bà H số tiền 370.000.000 đồng, việc cho vay không có làm biên nhận. Sau đó, bà T trả tiền lãi ngân hàng hàng tháng từ ngày 16/5/2022 đến ngày 12/02/2023 thì ngưng không trả nữa.
Đến ngày 16/5/2023, bà T làm biên nhận cho bà H, có ông Tô Văn K là Trưởng Ban nhân dân Khóm 5, Phường F xác nhận, cụ thể:
- Số tiền 70.000.000 đồng: Bà T hẹn đến ngày 29/5/2023 trả đủ nhưng bà T không thực hiện.
- Số tiền 300.000.000 đồng: Bà T cam kết đến ngày 16/5/2023 trả 100.000.000 đồng tiền vốn và các khoản lãi; còn lại 200.000.000 đồng hẹn đến ngày 30/8/2023 sẽ trả đủ và tiếp tục trả các khoản lãi.
Đến ngày 17/5/2023, Ngân hàng thông báo trả nợ số tiền 100.000.000 đồng do đến hạn nhưng bà T đã bỏ trốn nên bà H trả thay cho bà T số tiền vốn gốc là 100.000.000 đồng và tổng tiền lãi (lãi trong hạn và quá hạn) từ ngày 13/02/2023 đến 17/5/2023 là 8.498.630 đồng.
Từ ngày 11/5/2023 đến 11/8/2023, bà T trả lãi Ngân hàng cho số tiền 200.000.000 đồng còn lại.
Tại đơn khởi kiện, bà Phạm Thị H yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu T phải trả lại cho bà H số tiền nợ vay, cụ thể như sau:
- - Số tiền 70.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày 01/02/2022 đến ngày 5/10/2023 là 20 tháng 15 ngày, lãi suất 1%/tháng, thành tiền là 14.350.000 đồng.
- - Số tiền 300.000.000 đồng, tiền lãi từ ngày 13/02/2023 đến 17/5/2023 là 8.498.630 đồng và tiền lãi từ ngày 12/8/2023 đến ngày 16/10/2023 là 02 tháng 04 ngày, lãi suất 1%/tháng, thành tiền là 6.400.000 đồng.
Tổng hai khoản tiền là 399.248.630 đồng.
Bà H đồng ý trừ hai tháng tiền lãi đã nhận, số tiền 3.000.000 đồng. Như vậy, bà T có trách nhiệm trả cho bà H tổng số tiền vốn và lãi của hai khoản tiền vay là 396.248.630 đồng và yêu cầu bà T tiếp tục trả lãi từ ngày 17/10/2023 đến khi Tòa án giải quyết xong vụ án, với lãi suất 1%/tháng.
Tại phiên tòa, bà H yêu cầu bà T trả cho bà H số tiền cụ thể như sau:
- - Số tiền 70.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.
- - Số tiền 300.000.000 đồng, bà H yêu cầu bà T trả cho bà số tiền bà H đã nộp tiền lãi tại Ngân hàng vào ngày 17/5/2023 với số tiền 8.408.219 đồng, ngày 12/3/2024 số tiền 5.331.507 đồng và tiền lãi 02 tháng (tháng 3, tháng 4/2024) x 300.000.000 đồng x 0,875%/tháng = 5.250.000 đồng.
Tại văn bản ý kiến ngày 16/01/2024, bị đơn trình bày: Bà T với bà H có mối quan hệ hàng xóm thân thiết, bà H có cho bà T vay nhiều lần, nhiều năm nhưng không nhớ thời gian cụ thể, với tổng số tiền là 70.000.000 đồng, hàng tháng bà T đóng lãi cho bà H số tiền lãi là 3.500.000 đồng, đóng từ ngày nào không nhớ, đến tháng 5/2022 bà T đưa cho bà H 20.000.000 đồng và ngưng đóng lãi đến nay.
Ngày 10/5/2022, bà H vay giùm bà T số tiền 300.000.000 đồng tại Ngân hàng N chi nhánh tỉnh Đ, hàng tháng bà T đã trả tiền lãi cho Ngân hàng, tổng số tiền lãi bao nhiêu không nhớ, sẽ cung cấp chứng cứ.
Sau đó, bà H trả cho Ngân hàng 100.000.000 đồng, còn lại 200.000.000 đồng tiền vốn, bà T có đóng lãi hàng tháng.
Nay bà T đồng ý trả cho bà H 370.000.000 đồng tiền vốn, tiền lãi trả xong nên không đồng ý trả tiếp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của bà Phạm Thị H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản; bà Nguyễn Thị Thu T là bị đơn có địa chỉ tại Phường F, thành phố C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp theo quy định khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu T số tiền vốn 370.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi đối với số tiền 70.000.000 đồng, riêng tiền lãi của số tiền 300.000.000 đồng là 18.989.726 đồng (làm tròn là 18.990.000 đồng).
[2.1] Về tiền vốn, bà Phạm Thị H yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu T số tiền vốn 370.000.000 đồng. Tại văn bản ý kiến ngày 16/01/2024, bà T thừa nhận có vay của bà H tổng số tiền 370.000.000 đồng và đồng ý trả số tiền vốn 370.000.000 đồng cho bà H.
Căn cứ vào biên nhận ngày 16/5/2023, thể hiện bà T có vay của bà H số tiền 370.000.000 đồng, điều này cũng phù hợp lời trình bày của bà H và lời trình bày của bà T tại văn bản ý kiến ngày 16/01/2024. Hội đồng xét xử xét thấy bà H và bà T đã thống nhất số tiền vốn vay là 370.000.000 đồng nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H. Buộc bà Nguyễn Thị Thu T có trách nhiệm trả cho bà H số tiền vốn vay là 370.000.000 đồng.
[3] Đối với tiền lãi, bà H yêu cầu cụ thể như sau:
- - Số tiền 70.000.000 đồng, bà H cho rằng bà T đã nộp lãi được 02 tháng với số tiền là 3.000.000 đồng, bà T cho rằng đã nộp lãi cho bà H mỗi tháng là 3.500.000 đồng đến tháng 5/2022 bà T đưa cho bà H 20.000.000 đồng và ngưng đóng lãi đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy việc nộp tiền lãi hai bên trình bày không thống nhất và không có chứng cứ để chứng minh. Tại phiên tòa, bà H không yêu cầu tính lãi đối với số tiền 70.000.000 đồng. Xét thấy, việc bà H không yêu cầu tính lãi đối với số tiền 70.000.000 đồng là hoàn toàn tự nguyện và cũng có lợi cho bà T nên chấp nhận.
- - Số tiền 300.000.000 đồng.
Căn cứ hợp đồng tín dụng ngày 11/5/2022, thể hiện bà H vay tiền giúp cho bà T số tiền 300.000.000 đồng tại Ngân hàng N Chi nhánh tỉnh Đ, lãi suất 10,5%/năm, tương đương 0,875%/tháng, nộp tiền lãi một quý một lần, bà H và bà T đều thống nhất số tiền lãi theo hợp đồng của Ngân hàng nên Hội đồng xét xử chấp nhận lãi suất 0,875%/tháng. Hàng quý, bà H và bà T thay nhau nộp tiền lãi, cụ thể:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do bà H cung cấp, thể hiện bà H nộp tiền lãi tại Ngân hàng theo chứng từ giao dịch ngày 17/5/2023 với số tiền 8.408.219 đồng, chứng từ giao dịch ngày 12/3/2024 số tiền 5.331.507 đồng
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do bà T cung cấp, thể hiện bà T nộp tiền lãi tại Ngân hàng theo các chứng từ giao dịch ngày 17/8/2022 số tiền 8.026.027 đồng, ngày 10/11/2022 số tiền 7.890.411 đồng, ngày 17/02/2023 số tiền 8.498.630 đồng, ngày 23/8/2023 số tiền 5.005.479 đồng, ngày 27/11/2023 số tiền 5.232.876 đồng
Tính đến thời điểm xét xử (tháng 4/2024), bà T còn thiếu bà H 02 tháng tiền lãi, cụ thể: 300.000.000 đồng x 02 tháng x 0,875%/tháng = 5.250.000 đồng.
Tại phiên tòa, bà H yêu cầu bà T trả cho bà số tiền lãi bà đã nộp tiền lãi vào ngày 17/5/2023 với số tiền 8.408.219 đồng, ngày 12/3/2024 số tiền 5.331.507 đồng, 02 tháng tiền lãi (tháng 3 và tháng 4/2024), số tiền 5.250.000 đồng, tổng số tiền là 18.990.000 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi đối với số tiền trên cho đến khi trả hết nợ là có căn cứ nên chấp nhận. Buộc bà T trả cho bà H tiền lãi 18.990.000 đồng và tiếp tục tính lãi với lãi suất do Nhà nước quy định cho đến khi trả hết nợ.
[4] Về án phí: Bà T phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 357, 466, 468 của Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H.
Buộc bà Nguyễn Thị Thu T có trách nhiệm trả cho bà Phạm Thị H số tiền vốn vay là 370.000.000 đồng và tiền lãi là 18.990.000 đồng, tổng cộng 388.990.000 đồng.
Kể từ có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 19.449.500 đồng.
Bà Phạm Thị H được miễn nộp tiền tạm ứng án phí theo thông báo số 100/TB-TA ngày 27/12/2023 nên bà H không được nhận lại tiền tạm ứng án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc nhận được bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 - Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cẩm Trinh |
Bản án số 41/2024/DS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản
- Số bản án: 41/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp về hợp đồng dân sự vay tài sản
