TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày: 19-4-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Tuyên.
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Hợp và ông Lưu Quang Hưng.
- - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Y.
- - Đại diện VKSND huyện Y tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thơ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19/4//2024, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Hưng Yên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2024/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Trương Văn H, sinh năm 1967; STQ: Thôn Ngh, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Con ông Trương Văn H( tên khác Trương Chí H ) sinh năm: 1932 và bà Vũ Thị H ( đã chết ); Vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1968; Bị cáo có 02 con. Con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1994; Gia đình có 7 anh chị em, bị cáo là thứ tư; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Trương Thị Thu Ph, sinh năm 1992
Trú tại: Thôn Tr, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Có mặt tại phiên tòa
* Người làm chứng:
Ông Trịnh Văn L, sinh năm 1966
Trú tại: Thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 20 phút ngày 15/12/2023, tại khu vực ngã tư xóm T, thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Công an xã Lý Thường Kiệt, huyện Y phát hiện bắt quả tang Trương Văn H, sinh năm 1967 ở thôn Ngh, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại mặt đường, gần vị trí H đang đứng 01 gói giấy mầu trắng, kích thước1,5cm x 2cm, bên trong chứa chất mầu trắng dạng cục và bột, niêm phong ký hiệu M1 ( Hưng khai nhận đó là ma túy loại Heroine ); Ngoài ra còn thu giữ của H 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 6S mầu vàng, bên trong gắn sim thuê bao số 0339523388; 01 bật lửa ga mầu đỏ và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mầu đỏ - đen – trắng, biển số 89M1 - 11953, trong cốp xe có 01 CCCD mang tên Trương Văn H và 01 Chứng nhận đăng ký xe máy số 010536, mang tên Trương Thị Thu Ph.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trương Văn H ở thôn Ngh, thị trấn Y, huyện Y, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y không thu giữ đồ vật tài liệu gì.
Quá trình điều tra, Trương Văn H khai nhận: Bản thân Hưng là người sử dụng chất ma túy Heroin từ khoảng cuối năm 2023 đến nay có quen biết và có số điện thoại của một người nam giới tên là Tới khoảng 40 tuổi ở thôn T, xã L, huyện Y, có bán ma túy Heroin. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 15/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên Hưng sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone6S mầu vàng, có số thuê bao số 0339523388 H mượn của chị Trương Thị Thu Ph để liên lạc điện thoại với T ( không xác định được số thuê bao, vì H đã xóa lịch sử cuộc gọi và không nhớ số thuê bao của T ) để hỏi mua 200.000 đồng tiền ma túy Heroin, thì Tới đồng ý và hẹn H giao dịch mua bán ma túy tại khu vực ngã ba xóm T, thôn T, xã L, huyện Y, sau đó H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mầu đỏ - đen - trắng, biển kiểm soát 89M1 - 11953 đến chỗ hẹn, thấy Tới đang đứng một mình, thì H nói “ mày để chịu cho tao một cái” (ý H là bảo T bán chịu cho Hưng 200 nghìn tiền ma túy Heroin ), thì T gật đầu đồng ý và lấy từ trong túi áo khoác đang mặc ra đưa cho H 01 gói giấy mầu trắng, kích thước khoảng 1,5cm x 2cm rồi bỏ đi, H biết trong gói giấy là ma túy Heroin, nên cầm trên tray trái rồi điều khiển xe mô tô đi tìm chỗ sử dụng, khi đi đến khu vực ngã tư xóm T, thôn T, xã L, thì bị Công an xã L phát hiện kiểm tra, H vứt bỏ gói ma túy trên xuống mặt đường ngay vị trí H bị kiểm tra. Công an xã L đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng nêu ở trên.
Kết quả xét nghiệm ngày 15/12/2023 xác định: Trương Văn H dương tính với chất ma túy, loại Heroine.
Tại bản kết luận giám định số 29/KL-KTHS(MT) ngày 18/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong ký hiệu M1, có khối lượng là: 0,293g (không phẩy hai chín ba gam) là ma tuý, loại Heroine.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã nhập kho vật chứng đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định là: 01 phong bì niêm phong ghi số 29/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,279g Heroine; mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định chờ xử lý.
Đối với người đàn ông tên T bị cáo H khai đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lý lịch của người này nên không có căn cứ để xem xét xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mầu đỏ - đen - trắng, biển số 89M1 - 11953 và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S mầu vàng gắn sim viettel thuê bao số 0339.523.xxx (serie 8984048000318029512) thu giữ của bị cáo H quá trình điều tra xác định là của chị Trương Thị Thu Ph, sinh năm 1992 ( con gái H ). Chị Ph xác định chiếc điện thoại Iphone 6S mầu vàng của chị không có sim, còn sim viettel thuê bao số 0339.523.xxx (serie 8984048000318029512) là của bị cáo H tự gắn vào điện thoại của chị để sử dụng. Chị Ph không biết việc bị cáo H đã tự ý sử dụng xe và điện thoại của chị để mua ma túy. Ngày 11/01/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chiếc xe trên cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe máy và 01 Căn cước công dân của H cho chị Ph.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S mầu vàng, gắn sim viettel thuê bao số 0339.523.xxx (serie 8984048000318029512) và 01 bật lửa ga mầu đỏ thu giữ của Trương Văn H, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng để chờ xử lý.
Quá trình điều tra, bị cáo H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 41/CT-VKS-YM ngày 29/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo Trương Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trương Văn H và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS.
- - Đề nghị xử phạt: Bị cáo Trương Văn H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 15/12/2023;
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y còn đề nghị về đường lối xử lý vật chứng trong vụ án.
- - Bị cáo Trương Văn H nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải, được nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an huyện Y và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.
Về tố tụng: Tại phiên tòa người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, tuy nhiên quá trình điều tra, người làm chứng đã có lời khai, do đó sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt người làm chứng trên.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong vật chứng, biên bản ghi lời khai của người làm chứng, kêt luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hưng Yên cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:
Hồi 09 giờ 20 phút ngày 15/12/2023, tại khu vực ngã tư xóm T, thôn T, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên bị cáo Trương Văn H đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,293g ma túy, loại Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an xã L, huyện Y phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi và khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ như nêu trên đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Y truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, làm mất an ninh, trật tự công cộng, an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác.
Ma túy làm cho người sử dụng thay đổi trạng thái tâm lý, sa sút về tinh thần, suy giảm về thể lực và trí tuệ, giảm tuổi thọ, suy thoái chất lượng giống nòi và làm tăng nguy cơ bị lây nhiễm các bệnh xã hội. Người nghiện ma túy nặng có thể có biểu hiện rối loạn tâm thần, dễ bị kích động dẫn tới các hành vi không đúng chuẩn mực xã hội hoặc vi phạm pháp luật. Ngoài ra, gia đình người nghiện ma túy còn phải chịu một gánh nặng rất lớn về kinh tế, đồng thời còn phải chịu áp lực tinh thần do bị cộng đồng kỳ thị, trở thành gánh nặng cho xã hội.
- Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bố: đẻ bị cáo là ông Trương Văn H ( tên khác Trương Chí H ) được Hội đồng Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhất nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX thấy: Bị cáo là người nghiện ma túy thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và việc bị cáo Tàng trữ trái phép chất ma túy cũng để phục vụ cơn nghiện của mình chứ không có mục đích tư lợi nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự, để phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng trong vụ án:
- - 01 phong bì niêm phong ghi số 29/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,279g Heroine; mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định; chiếc sim viettel thuê bao số 0339.523.xxx (serie 8984048000318029512) và 01 bật lửa ga mầu đỏ là vật liên quan đến hành vi phạm tội, vật nhà nước cấm lưu hành, hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.
- - Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S mầu vàng quá trình điều tra và tại phiên tòa có căn cứ xác định là tài sản thuộc sở hữu của chị Trương Thị Thu Ph. Chị Ph không biết bị cáo H sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại chiếc điện thoại cho chị Ph.
- Đối với người đàn ông tên Tới bị cáo H khai đã bán ma túy cho bị cáo, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 136 của BLTTHS.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Trương Văn H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 15/12/2023.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Trương Văn H.
Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu cho tiêu hủy 0,279g ma túy Heroine, mảnh giấy gói ma túy và 01 vỏ phong bì niêm phong ký hiệu số 29/KL-KTHS (MT); chiếc sim viettel thuê bao số 0339.523.xxx (serie 8984048000318029512) và 01 bật lửa ga mầu đỏ.
- - Trả lại cho chị Trương Thị Thu Ph chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S mầu vàng ( Bên trong không có sim).
(Đặc điểm, tình trạng chi tiết vật chứng theo biên bản giao vật chứng ngày 19/4/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Y và Công an huyện Y).
Về án phí: Buộc bị cáo Trương Văn H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS. Bị cáo Trương Văn H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Tuyên |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Hưng Điều 249
