|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án: 41/2024/HS-ST Ngày: 19 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Tám
Bà Nguyễn Thị Hưởng
Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Văn T (T1), sinh ngày 19/5/1990, tại Long An; nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B và bà Sok P (đã chết); vợ Võ Thị Mỹ V, có 01 người con; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Tại bản án số 209/2007/HSPT ngày 20/12/2007 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An, xử phạt Trần Văn T 02 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” chấp hành án phạt tù tại Trại giam T2, đến ngày 17/01/2009 được đặc xá, chấp hành xong án phí.
Ngày 03/02/2020 bị Công an huyện B xử phạt hành chính về hành vi Đánh bạc, số tiền 1.500.000đ, phạt bổ sung tịch thu 200.000đ, chấp hành xong ngày 26/3/2020.
Bị bắt tạm giam từ ngày 21/12/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện B. Có mặt;
- Bị hại: Lý Minh K, sinh năm 1997. Có mặt
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Long An
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Lý Thanh Đ, sinh năm 1984. Vắng mặt
- Địa chỉ: Ấp P, xã H, huyện M, tỉnh Sóc Trăng
- + Võ Thị Mỹ V, sinh năm 1986. Có mặt
- Địa chỉ: B Ấp B, xã B, huyện B, Tp ..
- Người làm chứng:
- + Nguyễn Anh Q, sinh năm 1974
- + Nguyễn Trung H, sinh năm 1974
- + Phan Tấn C, sinh năm 1985
Cùng địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Long An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 09/9/2023, Lý Minh K, Nguyễn Anh Q, Nguyễn Trung H và Phan Tấn C rủ nhau uống bia tại quán bán nước giải khát cặp đường tỉnh 830 (ĐT 830) thuộc ấp C, xã T, huyện B. Cả bốn nhậu đến khoảng 00 giờ 00 phút ngày 10/9/2023 thì thấy Trần Văn T chạy xe ngang nên Q gọi T vào uống bia, T đồng ý. Trong lúc nhậu, giữa T và K lời qua tiếng lại xảy ra mâu thuẫn, K định đứng dậy đánh T được Q can ngăn, T nghỉ nhậu và chạy xe về nhà ở Ấp A, xã T lấy 01 dao tự chế bằng kim loại màu trắng bạc chiều dài 56cm, lưỡi dao có kích thước chiếu dài 39cm, chiều rộng lưỡi dao 04cm, có phần cán dao dài 19cm, phần đầu nhọn rồi quay lại chỗ nhóm K đang nhậu. Đến khoảng 00 giờ 15 phút, T đến trước quán và dựng xe, tay trái cầm dao tự chế đi bộ về hướng Khải ngồi, T đứng bên hông trái K, cách 0,5m T cầm dao chém 02 cái liên tiếp theo hướng từ trên xuống dưới từ phải qua trái, K liền đưa tay trái lên đỡ bị lưỡi dao chém trúng phần cẳng tay trái K, K đứng dậy lấy ghế đánh lại T nhưng không trúng, K lùi ra sau thì bị té ngã, lúc này T tiếp tục dùng dao chém một nhát theo hướng từ trên xuống dưới từ phải qua trái trúng vào vai trái của K, K quay người bỏ chạy, T tiếp tục chém 01 cái trúng vào vùng lưng của K nhưng không trúng. Lúc này, Q, H và C chạy đến can ngăn nên T dừng lại, lên xe bỏ về. K tự đi về nhà và được người nhà đưa đi Bệnh viện huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cứu, điều trị đến ngày 22/9/2023 xuất viện.
Tại Giấy CN thương tích số 45/GCN-KHTH ngày 29/9/2023 của Bệnh viện huyện B thể hiện Lý Minh K nhập viện vào lúc 01 giờ 05 phút với tình trạng thương tích: Vết thương vai trái kích thước 06cm; vết thương mặt ngoài cánh tay trái kích thước 06cm không tổn thương gân cơ; vết thương mặt trong 1/3 giữa cẳng tay trái kích thước 04cm; hạn chế duỗi ngón 01 tay trái, gấp duỗi cổ tay trái được, gấp duỗi ngón II, III, IV, V tay trái tốt, cảm giác các ngón tay trái tốt, mạch quay trái rõ; X-quang xương cẳng tay trái: giữa xương trụ bên trái
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 347/KLTTCT-TTPY ngày 15/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L, kết luận:
Các kết quả chính: 01 sẹo vết thương vai trái kích thước lớn; 01 sẹo vết thương mặt ngoài cánh tay trái, kích thước trung bình; 01 sẹo vết thương và sẹo phẫu thuật hình chữ “Z” cẳng tay trái; Gãy 1/3 giữa xương trụ trái/kết hợp xương.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lý Minh K tại thời điểm giám định của Lý Minh K là 15%.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện B tạm giữ: 01 xe mô tô biển số 83P1-935.49; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe tên Lý Thanh Đ, Đ bán xe cho T không làm thủ tục sang tên; 01 dao tự chế bằng kim loại màu trắng bạc chiều dài 56cm, lưỡi dao có kích thước chiều dài 39cm, chiều rộng lưỡi dao 04cm, có phần cán dao dài 19cm, phần đầu nhọn (hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức đang tạm giữ).
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Tại bản Cáo trạng số 39/CT-VKSBL ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo Trần Văn T về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T với mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 83P1-935.49; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Lý Thanh Đ.
Tịch thu tiêu hủy 01 dao tự chế bằng kim loại màu trắng bạc chiều dài 56cm, lưỡi dao có kích thước chiều dài 39cm, chiều rộng lưỡi dao 04cm, có phần cán dao dài 19cm, phần đầu nhọn.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, bị hại Lý Minh K yêu cầu Trần Văn T bồi thường chi phí điều trị thương tích và thu nhập thực tế bị mất với số tiền 31.975.463 đồng, bị cáo T đã bồi thường xong và bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đề nghị xem xét.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Lời khai nhận của bị cáo Trần Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng có mặt tại hiện trường, phù hợp với Bản kết luận giám định số 347/KLTTCT-TTPY ngày 15/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh L của bị hại Lý Minh K và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Thấy rằng: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 10/9/2023, bị cáo Trần Văn T cùng Lý Minh K, Nguyễn Anh Q, Nguyễn Trung H và Phan Tấn C uống bia tại quán nước giải khát cặp đường tỉnh 830 thuộc ấp C, xã T, huyện B, lúc này giữa K và bị cáo T xảy ra mâu thuẫn và định đánh nhau thì được mọi người can ngăn. Bị cáo T điều khiển xe mô tô biển số 83P1-935.49 về nhà lấy 01 dao tự chế bằng kim loại màu trắng bạc chiều dài 56cm, lưỡi dao có kích thước chiều dài 39cm, chiều rộng lưỡi dao 04cm, có phần cán dao dài 19cm, phần đầu nhọn rồi quay lại chỗ nhóm K đang nhậu, bị cáo T cầm dao tự chế chém 04 cái vào người K trúng phần cẳng tay trái, bắp tay trái của K gây thương tích và gãy 1/3 giữa xương trụ trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%.
Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận, bị cáo Trần Văn T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự
Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An truy tố bị cáo Trần Văn T với tội danh và điều luật trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Trần Văn T gây ra là nguy hiểm. Hành vi này không những đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của bị hại Lý Minh K mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là nguy hiểm nhưng vì tức giận không kiềm chế được bị cáo đã dùng dao chém 04 cái vào người bị hại K trúng phần cẳng tay trái, bắp tay trái gây thương tích và gãy 1/3 giữa xương trụ trái với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%.
Hành vi trái pháp luật của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, do đó cần áp dụng mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1]. Xét về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
[4.2]. Xét về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Trần Văn T trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên khi áp dụng hình phạt có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần.
[5]. Xét thấy, bị cáo Trần Văn T có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng đối với bị cáo theo quy định tại Điều 54 Bộ luật Hình sự.
[6]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về hình phạt và mức hình phạt đối với bị cáo Trần Văn T là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7]. Về xử lý vật chứng:
- - 01 xe mô tô biển số 83P1-935.49 là tài sản của bị cáo T mua lại của anh Lý Thanh Đ có giấy chứng nhận đăng ký xe tên Lý Thanh Đ, bị cáo T không làm thủ tục sang tên, bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- - 01 dao tự chế bằng kim loại màu trắng bạc chiều dài 56cm, lưỡi dao có kích thước chiều dài 39cm, chiều rộng lưỡi dao 04cm, có phần cán dao dài 19cm, phần đầu nhọn là công cụ bị cáo sử dụng phạm tội nên tịch thu tiêu hủy
[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Lý Minh K yêu cầu Trần Văn T bồi thường chi phí điều trị thương tích và thu nhập thực tế bị mất với số tiền 31.975.463 đồng, bị cáo T đã bồi thường xong. Trước phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tiếp chi phí điều trị bắp tay trái sau này. Do đó, sau khi bị hại điều trị có hóa đơn chứng từ hợp lệ được quyền khởi kiện yêu cầu bị cáo bồi thường bằng vụ án dân sự khác.
[9]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- - Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự
- Xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.
- - Căn cứ khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn T 45 ngày kể từ ngày tuyên án (19/4/2024) để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự
- - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô biển số 83P1-935.49 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe tên Lý Thanh Đ.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 dao tự chế bằng kim loại màu trắng bạc chiều dài 56cm, lưỡi dao có kích thước chiều dài 39cm, chiều rộng lưỡi dao 04cm, có phần cán dao dài 19cm, phần đầu nhọn.
- (Tang vật trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26 tháng 4 năm 2024)
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Án sơ thẩm xét xử công khai, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày nêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Thảnh |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích ”
