TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 41/2024/HS-ST
Ngày: 18 - 9 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Điệp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đắc Quýnh và bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Đức Cường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương – Tại điểm cầu trung tâm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà:
+ Bà Nguyễn Thị La - Kiểm sát viên – Tại điểm cầu trung tâm.
- Những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:
+ Ông Nguyễn Văn C - Thư ký, Toà án nhân dân huyện Nam Sách.
+ Bà Nguyễn Thị N – Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương và điểm cầu thành phần – Trại tạm giam Công an tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Đào Văn C1
Sinh ngày 06/5/2002; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Đ, N, Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn M, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông Đào Văn S và bà Lê Thị H, Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số 53/2020/HS-ST ngày 04/11/2020 của Toà án nhân dân huyện Nam Sách xử phạt C1 14 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Chính chấp hành xong bản án ngày 09/8/2021. (Đã được xoá án tích).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/6/2024 đến ngày 26/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh H - Có mặt tại phiên tòa.
- Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1965; Vắng mặt.
- Những người tham gia tố tụng khác:
+ Ông Bùi Quang V - Cán bộ Trại tạm giam công an tỉnh H
Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đào Văn C1 là người sử dụng ma túy, loại Methamphetamine. Chiều ngày 24/6/2024, C1 đi nhờ xe của người đi đường đến khu vực cầu G thuộc địa phận thành phố H, tỉnh Hải Dương mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, C1 gặp một người đàn ông, theo C1 trình bày tên là T (Không rõ tên, tuổi, địa chỉ). Quá trình nói chuyện, C1 biết T có ma tuý đá bán nên C1 đặt vấn đề mua 500.000 đồng tiền ma túy đá thì T đồng ý. C1 đưa cho T 500.000 đồng, người này đưa lại cho C1 01 tờ giấy ăn màu trắng, bọc bên trong 01 túi nilon màu trắng, bên trong túi nilon có chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá. Sau đó, C1 cầm gói ma túy mua được trong lòng bàn tay phải đi tìm nơi sử dụng. Hồi 13 giờ 55 phút cùng ngày, khi C1 đi vào khu nhà trọ của bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1965 ở thôn M, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương thì bị Công an huyện N phối hợp với Công an xã Đ, huyện N phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của C1 đang cầm 01 tờ giấy ăn màu trắng, bọc bên trong 01 túi nilon màu trắng kích thước 02 x 03 cm, bên trong túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng. Chính trình bày đó là ma tuý đá, mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân.
Tại Kết luận giám định số 329/KL-KTHS ngày 25/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Chất rắn (dạng tinh thể) màu trắng trong túi nilon màu trắng, bên trong gói giấy, được niêm phong trong phong bì, ghi thu của Đào Văn C1, gửi đến giám định có khối lượng 0,201g (Không phẩy hai trăm linh một gam) là ma tuý, loại Methamphetamine.
Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì niêm phong số 329/KL-KTHS của Phòng PC 09- Công an tỉnh H bên trong chứa 0,135 gam ma tuý, loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định hiện đang quản lý tại kho vật chứng chờ xử lý.
Tại Cáo trạng số 43/CT-VKS-NS ngày 04/9/2024, Viện kiểm sát nhân huyện N, tỉnh Hải Dương truy tố Đào Văn C1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Văn C1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị: Xử phạt bị cáo Đào Văn C1 từ 13 đến 15 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 24/6/2024; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu hủy 0,135 gam ma tuý, loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định là mẫu vật hoàn lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, VKSND huyện Nam Sách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hồi 13 giờ 55 phút, ngày 24/6/2024 tại khu nhà trọ của bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1965 ở thôn M, xã Đ, huyện N, tỉnh Hải Dương, Đào Văn C1 có hành vi cất giấu trái phép trong lòng bàn tay phải 01 gói ma tuý loại Methamphetamine, có khối lượng 0,201 gam, thì bị phát hiện bắt quả tang. Chính cất giấu Methamphetamine với mục đích để sử dụng.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép 0,201 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội được pháp luật bảo vệ. Chất ma túy có tính kích thích thần kinh, có tác hại rất lớn đến sức khỏe của con người cũng như toàn xã hội. Hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng còn là một tệ nạn xã hội và là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh thế kỷ HIV – AIDS. Bị cáo đã bị xử phạt 14 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy mặc dù đã được xóa án tích nhưng không lấy đó làm kinh nghiệm cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tôi. Điều này, thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, công việc và thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng:
Đối với 0,135 gam ma túy, loại Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong dán kín của Phòng K Công an tỉnh H không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Quá trình điều tra không xác định được lai lịch của nam thanh niên bán ma tuý cho C1 nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Văn C1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đào Văn C1 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 24/6/2024.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu cho tiêu hủy 0,135 gam ma túy, loại Methamphetamine; 01 vỏ túi nilon màu trắng; 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong đựng trong 01 phong bì niêm phong dán kín số 329/KL-KTHS của Phòng PCông an tỉnh H (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách)
4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Điệp |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Thị Phương Nga Trần Thị Luận | Đoàn Thị Điệp |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đào Văn Ch pt TTTPCMT
