Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ GÒ CÔNG

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày: 17-9-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Phạm Đăng Khoa;
    2. Ông Nguyễn Hùng Dũng;
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hồng Tâm– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang;
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố G, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Nguyễn Tiến N, sinh ngày 15/3/2003, tại thành phố G, tỉnh Tiền Giang; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp N, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang; Căn cước công dân số [...] ngày cấp: 13/5/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông Võ Tiến T, sinh năm 1978 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1979; Bị cáo có vợ là Giảng Thị Việt T2, sinh năm 2003; có 01 người con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 24/5/2024, chuyển tạm giam ngày 30/5/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Gò Công, tỉnh tiền G, có mặt tại phiên tòa;

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 1/ Chị Giảng Thị Việt T2, sinh năm: 2003;
  • Nơi cư trú: ấp N, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang. (Có mặt)
  • 2/ Anh Võ Tiến T, sinh năm 1978;
  • Nơi cư trú: ấp N, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)
  • 3/ Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1979;
  • Nơi cư trú: Số A đường số A, khu phố D, phường L, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

* Người làm chứng:

  • Anh Phạm Minh T3, sinh năm: 1988;
  • Nơi cư trú: ấp N, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24 tháng 5 năm 2024, bị cáo điều khiển xe mô tô hai bánh nhãn loại “VISION” biển số 63B6-480.88 đi từ nhà tọa lạc tại ấp N, xã B, thành phố G để tìm nơi sử dụng trái phép chất ma túy. Khi đi bị cáo mang theo 02 (hai) gói ny-lon, một gói Nghĩa ngậm trong miệng, gói còn lại N giấu vào bên trong lưng quần lót phía trước bụng đang mặc trên người. Khi N điều khiển xe 63B6-480.88 trên đường liên ấp N - Hòa Thân thuộc xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang thì gặp lực lượng phối hợp gồm Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh T, Công an thành phố G và Công an xã B đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra phòng chống ma túy. Lực lượng tuần tra thấy bị cáo có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành chặn dừng để kiểm tra. Kết quả kiểm tra đã phát hiện:

  • - Bên trong miệng của bị cáo đang ngậm 01 (một) gói ny-lon màu trắng được hàn kín, bên trong có tinh thể màu trắng nghi là ma túy - Ký hiệu M1;
  • - Tại vị trí bên trong quần lót phía trước bụng bị cáo đang mặc trên người có 01 (một) gói ny-lon màu trắng một đầu có viền màu đỏ (dạng túi zip được vuốt kín), bên trong có chứa:
    • + 01 (một) gói ny-lon màu trắng có một phần góc màu hồng (dạng túi zip được vuốt kín) bên trong có tinh thể màu trắng nghi là ma túy - Ký hiệu M2;
    • + 01 (một) gói ny-lon màu trắng (dạng túi zip được vuốt kín) bên trong có 10 (mười) gói ny-lon màu trắng nhỏ được hàn kín, bên trong mỗi gói có tinh thể màu trắng nghi là ma túy - Ký hiệu M3.

Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo và thu giữ các vật chứng, đồ vật liên quan khác gồm:

  • - 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng kiểu “VIVO”.
  • - 01 (một) xe mô tô loại “VISION”, màu đỏ, biển số 63B6-480.88.

Theo Kết luận giám định số 88/KL-KTHS ngày 27 tháng 5 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận đối với chất nghi ma túy thu giữ của bị cáo như sau:

Các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 2,7983 (hai phẩy bảy chín tám ba) gam, loại Methamphetamine. Trong đó:

  • - Mẫu ký hiệu M1 có khối lượng 0,1688 gam;
  • - Mẫu ký hiệu M2 có khối lượng 1,4226 gam;
  • - Mẫu ký hiệu M3 có khối lượng 1,2069 gam.

Tại bản cáo trạng số 39/CT-VKSTPGC ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Võ Nguyễn Tiến N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, tỉnh Tiền Giang vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Võ Nguyễn Tiến N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  3. Xử phạt bị cáo Võ Nguyễn Tiến N từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2024.

  4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Ngày 14/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra trả cho chị Nguyễn Thị T1 01 (một) xe mô tô loại “VISION”, màu đỏ, biển số 63B6-480.88. Việc trả lại xe là phù hợp quy định pháp luật nên đề nghị ghi nhận.
    • - Đề nghị tịch thu tiêu hủy: Ma túy còn lại sau giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1438 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 1,3791 và ký hiệu M3 có khối lượng 1,1723 gam được niêm phong trong một bì thư ký hiệu vụ số 88 đề ngày 27 tháng 5 năm 2024.
    • - Đề nghị trả lại cho chị Giảng Thị Việt T2 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng kiểu VIVO.
  5. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Võ Nguyễn Tiến N xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về cùng với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Gò Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Võ Tiến T và chị Nguyễn Thị T1, người làm chứng Phạm Minh T3 vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt trên không ảnh hưởng đến việc xét xử và vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của những người này. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

[3]. Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: Vào ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại đoạn đường liên ấp N - Hòa Thân thuộc ấp N, xã B, thành phố G, tỉnh Tiền Giang, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là Methamphetamine với tổng khối lượng là 2,7983 (hai phẩy bảy chín tám ba) gam để sử dụng cá nhân thì bị phát hiện bắt quả tang như nội dung Cáo trạng đã nêu, không có oan sai.

Lời khai nhận trên của bị cáo đã phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản bắt người phạm tội quả tang của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G; Kết luận giám định số 88/KL-KTHS ngày 27/5/2024 của Phòng K, Công an tỉnh T, lời khai của người liên quan, người làm chứng, đồng thời khớp với các lời khai trước đây của bị cáo tại Cơ quan cơ điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[4]. Với các chứng cứ tài liệu đã nêu trên, Tòa án có đầy đủ căn cứ để kết luận bị cáo Võ Nguyễn Tiến N đã có hành vi cất giữ chất ma túy có tổng khối lượng là 2.7983 gam loại Methamphetamine trong người bị cáo nhằm mục đích sử dụng. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[5]. Về động cơ, mục đích của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện thì thấy, bị cáo đã trưởng thành có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình, nhưng chỉ vì muốn sử dụng ma túy nên bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

[6]. Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[7]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, bị cáo Võ Nguyễn Tiến N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo đã trưởng thành có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình, nhưng chỉ vì muốn sử dụng ma túy nên bị cáo đã bất chấp pháp luật cố ý phạm tội chứng tỏ rằng bị cáo xem thường pháp luật. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục răn đe và phòng chống tội phạm, đồng thời cho bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội và có thời gian cai nghiện.

[8]. Theo qui định tại khoản 5 điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tuy nhiên xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.

[9]. Về vật chứng:

  • - Ngày 14/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra trả cho chị Nguyễn Thị T1 01 (một) xe mô tô loại “VISION”, màu đỏ, biển số 63B6-480.88. Việc trả lại xe là phù hợp quy định pháp luật nên ghi nhận.
  • * Vật chứng còn đang tạm giữ:
    • - Ma túy còn lại sau giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1438 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 1,3791 và ký hiệu M3 có khối lượng 1,1723 gam được niêm phong trong một bì thư ký hiệu vụ số 88 đề ngày 27 tháng 5 năm 2024. Xét thấy đây là tang vật của vụ án và là chất Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
    • - 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng VIVO, xét thấy đây là tài sản của chị Giảng Thị Việt T2 không liên quan đến vụ án nên trả lại cho chị T2.

[10] Đối với đối tượng tên Cọp, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Gò Công tách riêng để tiếp tục xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

[11]. Bị cáo Võ Nguyễn Tiến N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

[12]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
  • - Các Điều 106, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  1. Tuyên bố bị cáo Võ Nguyễn Tiến N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Võ Nguyễn Tiến N 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 24/5/2024.
  3. Về vật chứng:
    • - Tịch thu tiêu hủy: Ma túy còn lại sau giám định ký hiệu M1 có khối lượng 0,1438 gam, ký hiệu M2 có khối lượng 1,3791 và ký hiệu M3 có khối lượng 1,1723 gam được niêm phong trong một bì thư ký hiệu vụ số 88 đề ngày 27 tháng 5 năm 2024.
    • - Trả lại cho chị Giảng Thị Việt T2 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng VIVO.

    Thời gian thực hiện sau khi án có hiệu lực pháp luật.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Gò Công và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G)

  4. Về án phí: Buộc bị cáo Võ Nguyễn Tiến N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án để Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Trường hợp những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND thành phố Gò Công;
  • - Công an thành phố Gò Công;
  • - Chi cục THADS thành phố Gò Công;
  • - Bộ phận THA phạt tù;
  • - Bị cáo, người bị hại, NLQ;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ GÒ CÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Nguyễn Tiến Ng, sinh ngày 15/3/2003, tại GC, tỉnh Tiền Giang; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp NC, xã BĐ, thành phố GC, tỉnh Tiền Giang
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger