Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 41/2024/HNGĐ - ST

Ngày 17 - 6 - 2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Hải

Ông Nguyễn Văn Dương

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vân Ánh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 224/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2023, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐST -HNGĐ ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1993
  2. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Bị đơn: Anh Đậu Văn P1, sinh năm 1986
  4. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Chị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh P1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh P1 tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 03/01/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do hai bên không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không thể hòa hợp được, mâu thuẫn đã được bạn bè và người thân hòa giải nhưng vẫn không hòa hợp được, khoảng 3 năm nay vợ chồng chỉ sống với nhau vì con cái. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng dành cho nhau không còn, mâu thuẫn gia đình đã trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh P1.

Về con chung: Chị và anh P1 có 02 con chung là Đậu Văn T, sinh ngày 28/5/2014 và Đậu Trọng T1, sinh ngày 22/6/2017, tại đơn khởi kiện chị P2 yêu cầu khi ly hôn chị trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con và không yêu cầu anh P1 cấp dưỡng nuôi con; tại bản tự khai chị đề nghị xin được nuôi cháu Đậu Trọng T1 và không yêu cầu anh P1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Đậu Văn P1: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho anh P1, do anh P1 không có mặt tại gia đình, nên Tòa án tống đạt thông qua mẹ đẻ anh P1 là bà Lường Thị D, bà D nhận và cam đoan sẽ thông báo và giao lại các văn bản tố tụng cho anh P1.

Tòa án tiến hành xác minh tại gia đình anh P1, mẹ anh P1 là bà Lường Thị D cho biết: anh P1 và chị P kết hôn năm 2013 sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, kể từ năm 2022 vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, từ tháng 8 năm 2023 chị P và anh P1 sống ly thân, khi biết chị P khởi kiện ly hôn anh P1 có nhận được các thông báo của Tòa án nhưng anh có nói là bản thân anh muốn vợ chồng đoàn tụ, anh không muốn ly hôn chị P.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Đậu Văn T, sinh ngày 28/5/2014 và Đậu Trọng T1, sinh ngày 22/6/2017 kể từ khi vợ chồng sống ly thân cháu T ở với bố và ông, bà nội; cháu T1 ở với mẹ. Nguyện vọng của anh P1, nếu chị P nhất quyết ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu T.

Về tài sản chung: Vợ chồng anh P1, chị P không có tài sản gì.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa. Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị P. Về hôn nhân giải quyết cho chị P được ly hôn anh P1; Về con chung: giao cháu Đậu Văn T cho anh P1 trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Đậu Trọng T1 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, chị P và anh P1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét; Về tài sản chung: chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét; Về án phí: chị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị P yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn giữa chị và anh P1; anh P1 cư trú tại xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; chị P đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh P1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, chị P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị P và anh P1 theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu ly hôn và tình trạng hôn nhân giữa chị P và anh P1: Quan hệ hôn nhân giữa chị P và anh P1 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, mâu thuẫn trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân. Chị P xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh P1.

Anh P1 đã biết việc chị P yêu cầu ly hôn, nhưng không đến Tòa án để giải quyết, anh P1 mong muốn vợ chồng đoàn tụ, nhưng anh không có biện pháp và cách thức giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, để hàn gắn tình cảm với chị P, chị P vẫn cương quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn anh P1.

Tòa án tiến hành xác minh mâu thuẫn vợ chồng giữa chị P và anh P1 xác định trong cuộc sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn.

Căn cứ vào trình bày của chị P và kết quả xác minh có căn cứ để xác định, hôn nhân giữa chị P và anh P1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị P là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị P và anh P1 có 02 con chung là Đậu Văn T, sinh ngày 28/5/2014 và Đậu Trọng T1, sinh ngày 22/6/2017, hiện nay cháu T đang ở với anh P1 và ông, bà nội; cháu T1 đang ở với chị P. Chị P và anh P1 có đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con, cháu T có nguyện vọng ở với bố nếu bố mẹ ly hôn. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của chị P giao cháu T cho anh P1 trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu T1 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con.

Về cấp dưỡng nuôi con chung chị P và anh P1 không yêu cầu giải quyết, nên HĐXX không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị P không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị P khởi kiện vụ án ly hôn, không thuộc trường hợp được miễn án phí, nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 235; Điều 266; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQ14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị P:

  • - Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị P được ly hôn anh Đậu Văn P1.
  • - Về con chung: Giao cháu Đậu Văn T, sinh ngày 28/5/2014 cho anh Đậu Văn P1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Đậu Trọng T1, sinh ngày 22/6/2017 cho chị Nguyễn Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị P và anh P1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0006871 ngày 23/11/2023.

4. Quyền kháng cáo: Chị P và anh P1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án, thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - UBND xã Tùng Lâm, TX Nghi Sơn;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HNGĐ - ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 41/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Ph ly hôn anh P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger