Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HIỆP HÒA

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/DS-ST

Ngày 17 tháng 6 năm 2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng dân sự

Và tranh chấp về thừa kế tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Chuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Trường

Ông Lê Văn Đô

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Quyền- Thư ký Tòa án.

- Đại diện VKSND huyện Hiệp Hòa: Bà Nguyễn Hồng H- Kiểm sát viên.

Trong các ngày 31/5/2024 và ngày 17/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 11/2023/TLST-DS ngày 01/02/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự; tranh chấp về thừa kế tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-DS ngày 20/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QĐST- DS ngày 09/4/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 04/TB-TA ngày 07/5/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 55/2024/QĐST- DS ngày 31/5/2024 giữa:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1978. Địa chỉ: tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Dương Văn Q- Luật sư Công ty L- Đoàn luật sư tỉnh B.

Địa chỉ: Lô A, Khu đô thị P, xã T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

- Bị đơn:

+ Bà Trần Thị H2, sinh năm 1948. Cùng địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

+ Chị Nguyễn Thị H3, sinh năm 1983. Cư trú: Tổ dân phố số B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Nguyễn Thị H4, sinh năm 1973. Địa chỉ: D, T, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)

+ Chị Nguyễn Thị H5, sinh năm 1980. Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt)

+ Ông Ngô Văn B, sinh năm 1966 và bà Lê Thị C, sinh năm 1968. Cư trú: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt)

+ Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Quang T, chức vụ: Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện H (Vắng mặt)

+ Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa thì nguyên đơn là Nguyễn Văn H1 trình bày: Bố mẹ anh là ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị T1. Bố mẹ anh ly hôn năm 1982. Bố mẹ anh sinh được 02 người con là anh và chị Nguyễn Thị H5. Bố anh có 01 người con riêng là chị Nguyễn Thị H4 với người vợ trước. Tháng 10/1982, bố anh kết hôn với bà Trần Thị H2, ông A và bà H2 sinh được một con chung là chị Nguyễn Thị H3. Ông A không có bố mẹ nuôi và con nuôi theo quy định của pháp luật. Ông A chết ngày 28/3/2007. Khi ông A chết không để lại di chúc gì. Ông A có để lại tài sản là thửa đất số 03 tờ bản đồ số 13. Tại địa chỉ: Thôn D, xã Đ (nay là tổ dân phố D, thị trấn T), huyện H, tỉnh Bắc Giang. Đất có diện tích 599.3 m². Được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 570901 ngày 14/12/2006 cho ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị H2. Trên đất có ngôi nhà ngói 04 gian do xây dựng đã lâu nên Hội đồng định giá không xác định giá trị. Ngoài thửa đất này thì ông A còn để lại di sản gì khác thì anh không nắm được.

Khi ông A còn sống thì ông A chuyển nhượng một phần thửa đất này cho vợ chồng ông Ngô Văn B và bà Lê Thị C như thế nào thì anh không nắm được. Đến năm 2022 anh mới biết vợ chồng ông B bà C làm nhà và ở trên đất của bố anh. Anh không biết ông B bà C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất này hay chưa. Trong năm 2022 anh cũng mới biết bà H2 tặng cho chị Nguyễn Thị H6 một phần diện tích của thửa đất và chị H6 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà H2 và chị H5 sử dụng thửa đất trên từ khi ông A chết cho đến nay. Gia đình anh chưa chia di sản của ông A để lại.

Nay anh giữ nguyên yêu cầu khởi kiện:

  • Tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị H2 và ông Ngô Văn B, bà Lê Thị C được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H (nay là TT Thắng, huyện H) chứng thực ngày 25/01/2010.
  • Tuyên vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị H2 và chị Nguyễn Thị H3 được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H (nay là TT Thắng, huyện H) chứng thực ngày 25/01/2010.
  • Yêu cầu chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn A là ½ thửa đất số 03, tờ bản đồ số 13 tại địa chỉ: Thôn D, xã Đ (nay là tổ dân phố D, thị trấn T), huyện H, tỉnh Bắc Giang và chia theo pháp luật. Anh yêu cầu được chia phần diện tích đất mà trên đất có ngôi nhà chị H5 đang quản lý sử dụng, kỷ phần anh được hưởng thì anh tự nguyện tặng cho chị H5. Anh không có công sức đóng góp gì đối với phần di sản của ông A nên không có yêu cầu gì về công sức đóng góp. Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng và hợp đồng tặng cho vô hiệu thì anh không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Về kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thì anh không có ý kiến gì, anh đề nghị giải quyết theo kết quả đo đạc hiên trạng thửa đất. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thì anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Bị đơn là bà Trần Thị H2 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Về quan gia đình như anh H1 trình bày là đúng. Ông A chết ngày 28/3/2007. Khi ông A chết không để lại di chúc gì. Bà và ông A có tài sản chung là thửa đất số 03 tờ bản đồ số 13. Tại địa chỉ: Thôn D, xã Đ (nay là tổ dân phố D, thị trấn T), huyện H, tỉnh Bắc Giang. Đất có diện tích 599.3 m². Được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 570901 ngày 14/12/2006 cho ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị H2.

Ngày 01/9/2006, vợ chồng bà chuyển nhượng cho vợ chồng ông Ngô Văn B và bà Lê Thị C một phần của thửa đất (hiện nay ông B bà C đang sử dụng) có diện tích 240 m², các bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 140.000.000 đồng, vợ chồng ông B bà C đã trả đủ cho vợ chồng bà số tiền này, bà đã viết giấy xác nhận ngày 01/9/2006 về việc nhận đủ số tiền do vợ chồng ông B bà C trả. Do đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên các bên chỉ viết hợp đồng chuyển nhượng bằng tay, mà không công chứng chứng thực theo trình tự thủ tục quy định của pháp luật. Các bên tiến hành bàn giao đất ngay sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng và thanh toán tiền đất. Theo kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất thì diện tích đất còn lại là tài sản chung của bà và ông A là 347,5 m². Ngày 27/01/2010, bà tặng cho chị Nguyễn Thị H3 một phần của thửa đất có diện tích 150 m² nay là 145,4 m², chị H3 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích được tặng cho. Khi bà ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đụng đất với ông B bà C và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho chị Nguyễn Thị H3 thì những người con khác của ông A không biết.

Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh H1 vì bà xác định hợp đồng chuyển nhượng giữa bà với ông B bà C là có hiệu lực pháp luật. Đối với hợp đồng tặng cho giữa bà với chị H3 thì bà xác định phần của bà được hưởng là 173,75 m² trong tổng số tài sản chung với ông A, bà mới chỉ tặng cho chị H3 145.4 m² nên bà xác định hợp đồng tặng cho giữa bà và chị H3 không vô hiệu. Bà xác định phần di sản của ông A một phần của thửa đất có diện tích 173,75 m². Gia đình bà chưa chia di sản của ông A để lại.

Nay bà yêu cầu Tòa án chia tài sản chung của bà và ông A đối với diện tích đất sau khi chuyển nhượng cho vợ chồng ông B còn lại là 347,5 m², bà yêu cầu được chia 173,75 m² trong khối tài sản chung với ông A. Bà yêu cầu chia phần di sản của ông A là một phần của thửa đất có diện tích là 173,75 m² theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông A. Bà yêu cầu Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà với vợ chồng ông Ngô Văn B, bà Lê Thị C và hợp đồng tặng cho giữa bà với chị Nguyễn Thị H3 có hiệu lực pháp luật. Phần tài sản chung và kỷ phần thừa kế bà được hưởng thì bà tự nguyện tặng cho chị Nguyễn Thị H3. Trường hợp các hợp đồng vô hiệu thì bà không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

Bà không có yêu cầu gì về công sức đóng góp vào phần di sản của ông A. Đối với ngôi nhà 04 gian trên đất xây dựng từ năm 1987, ngôi nhà đã cũ, không xác định được giá trị nên không có yêu cầu gì đối với ngôi nhà này.

Về kết quả thẩm định tại chỗ và định giá tài sản thì bà không có ý kiến gì. Thửa đất không có tranh chấp gì về ranh giới, mốc giới.

+ Bị đơn là chị Nguyễn Thị H3 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Về quan hệ huyết thống trong gia đình, cũng như những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn A như lời trình bày của anh H1 và bà H2 là đúng. Ông A chết đi không để lại di chúc gì. Bà H2 và ông A có tài sản chung là thửa đất có diện tích 599,3 m². Được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 570901 ngày 14/12/2006 cho ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị H2. Ngày 01/9/2006, ông A và bà H2 chuyển nhượng cho vợ chồng ông Ngô Văn B và bà Lê Thị C một phần của thửa đất có diện tích 240 m², các bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 140.000.000 đồng, chị được biết vợ chồng ông B bà C đã trả đủ tiền cho ông A bà H2. Các bên tiến hành bàn giao đất ngay sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng và thanh toán tiền đất khi ông A còn sống. Ông A có để lại di sản trong khối tài sản chung với bà H2 là phần còn lại của thửa đất có diện tích 347,5 m². Ngày 27/01/2010, bà H2 tặng cho Chị một phần thửa đất có diện tích 150 m², theo kết quả thẩm định là 145,5 m² chị đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích được tặng cho. Gia đình Chị chưa phân chia di sản của ông A để lại.

Chị không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh H1. Vì đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H2 với ông B, bà C thì việc chuyển nhượng được thực hiện từ khi ông A vẫn còn sống. Đối với hợp đồng tặng cho giữa chị với bà H2 thì chị xác định phần của bà H2 được hưởng là 173,75 m², bà H2 mới chỉ tặng cho chị 145,4 m² nên Chị xác định hợp đồng tặng cho giữa bà H2 và chị không vô hiệu. Chị xác định phần di sản của ông A chỉ có một phần của thửa đất có diện tích là 173,75 m².

Chị hoàn toàn nhất trí với yêu cầu của bà H2. Chị không có công sức đóng góp gì vào khối di sản do ông A để lại. Ngoài diện tích đất 173,75m² thì ông A không để lại di sản gì khác. Nếu được chia phần diện tích đất có ngôi nhà của chị H5 thì chị đồng ý trả bằng tiền phần giá trị của ngôi nhà đó cho chị H5.

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị H5 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Chị đã nghe rõ lời trình bày của anh H1, bà H2 và chị H3. Chị nhất trí với lời trình bày của anh H1 về quan hệ gia đình, tài sản do bố chị là ông Nguyễn Văn A để lại. Khi ông A chết không để lại di chúc gì. Ông A để lại di sản là thửa đất như anh H1 trình bày, ngoài ra ông A để lại một số tiền mặt và vàng. Trên đất có 02 ngôi nhà, 01 ngôi nhà 04 gian do bà H2 đang sử dụng đã cũ, không xác định giá trị, còn 01 ngôi nhà do chị đang sử dụng do chị xây dựng từ năm 2005.

Chị sống cùng ông A và ở trên thửa đất này từ khi còn bé đến bây giờ. Chị có nghe ông A nói là chuyển nhượng cho ông B bà C một phần diện tích của thửa đất có chiều rộng 08 m. Thủ tục chuyển nhượng như thế nào thì chị không nắm được. Từ cuối năm 2010 thì vợ chồng ông B bà C xây dựng nhà và ở trên diện tích đất này cho đến nay. Quá trình ông B bà C xây dựng nhà và ở trên diện tích đất này thì các bên không có tranh chấp gì. Theo chị thì ông B bà C đã thanh toán hết tiền thì mới xây dựng nhà và ở trên đất này. Chị và ông A là người trực tiếp đo diện tích đất chuyển nhượng cho ông B bà C. Chị có nghe thông tin bà H2 tặng cho chị H3 diện tích đất 150 m² nhưng chị không được chứng kiến việc tặng cho. Các anh chị em của chị đều không biết việc tặng cho này. Sau khi ông A chết thì bà H2 là người cúng giỗ ông A, các con cháu có tập trung vào ngày giỗ hàng năm của ông A.

Chị đồng ý đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh H1. Chị đề nghị được chia bằng đất vì chị có nhu cầu về đất ở. Chị không có công sức đóng góp gì vào khối di sản của ông A, chị không có yêu cầu gì về công sức đóng góp. Chị không đồng ý với yêu cầu của bà H2.

Đối với ngôi nhà chị xây dựng trên đất do chị đang sử dụng, theo kết quả định giá thì ngôi nhà trị giá 70.000.000 đồng. Theo kết quả đo đạc thì một phần diện tích của ngôi nhà 7,8 m² nằm trên phần diện tích đất bà H2 tặng cho chị H3, nếu hợp đồng tặng cho giữa bà H2 và chị H3 có hiệu lực thì chị đồng ý tháo dỡ phần diện tích nhà này trên đất của chị H3. Phần còn lại của ngôi nhà, nếu ai được chia phần diện tích đất có ngôi nhà thì yêu cầu trích chia cho chị phần giá trị ngôi nhà được quy đổi thành đất, chị không đồng ý nhận bằng tiền. Chị xin nhận kỷ phần mà anh H1 và chị H4 tặng cho và xin chịu án phí tương ứng kỷ phần được nhận.

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H4 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa: Chị đã nghe rõ lời trình bày của anh H1, bà H2, chị H5 và chị H3. Chị nhất trí với lời trình bày của anh H1 về quan hệ gia đình, di sản do bố chị là ông Nguyễn Văn A để lại. Ông A chết không để lại di chúc gì. Ông A để lại di sản là thửa đất như anh H1 trình bày, ngoài ra ông A để lại di sản gì khác thì chị không nắm được. Trên đất có 02 ngôi nhà, 01 ngôi nhà 04 gian do bà H2 đang sử dụng đã cũ, không xác định giá trị, còn 01 ngôi nhà do chị H5 đang sử dụng do vợ chồng chị H5 xây dựng và tu sửa. Nay Chị xác định di sản do ông A để lại là ½ thửa đất số 03, tờ bản đồ số 13 có diện tích là 599,3 m². Việc ông A bà H2 chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông B như thế nào thì chị không nắm được. Chị cũng không nắm được việc bà H2 tặng cho chị H3 quyền sử dụng đất.

Chị đồng ý với yêu cầu khởi kiện của anh H1. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Phần di sản chị được hưởng thì chị tự nguyện tặng cho chị H5. Chị không có công sức đóng góp gì vào khối di sản của ông A, chị không có yêu cầu gì về công sức đóng góp. Chị không đồng ý với yêu cầu của bà H2.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Ngô Văn B và bà Lê Thị C trình bày: Ngày 01/9/2006, ông bà nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị H2 một phần diện tích của thửa đất 03 tờ bản đồ số 13. Tại địa chỉ: Thôn D, xã Đ (nay là tổ dân phố D, thị trấn T), huyện H, tỉnh Bắc Giang. Đất có diện tích 599.3 m². Được Ủy ban nhân dân huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 570901 ngày 14/12/2006 cho ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị H2, diện tích nhận chuyển nhượng là 240 m², các bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 140.000.000 đồng, ông bà đã trả đủ cho vợ chồng ông A bà H2 số tiền này, ông A là người nhận tiền còn bà H2 là người viết giấy xác nhận ngày 01/9/2006 về việc nhận đủ số tiền do vợ chồng ông bà trả. Do đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên các bên chỉ viết hợp đồng chuyển nhượng bằng tay, mà không công chứng chứng thực theo trình tự thủ tục quy định của pháp luật. Các bên tiến hành bàn giao đất ngay sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng và thanh toán tiền đất. Để hợp lý về thủ tục pháp lý nên ngày 25/01/2010 vợ chồng ông bà và bà Trần Thị H2 có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, UBND xã Đ (nay là UBND thị trấn T) đã chứng thực hợp đồng chuyển nhượng cho ông bà. Ông bà đã được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử đụng đất số BB137903 ngày 29/4/2010 cho vợ chồng ông là ông Ngô Văn B và bà Lê Thị C.

Nay anh Nguyễn Văn H1 khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị H2 với ông bà vô hiệu thì ông bà không đồng ý. Trường hợp hợp đồng vô hiệu thì ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là UBND huyện H có quan điểm: 1. Đối với nội dung biến động của các thửa đất:

  • - Thửa đất số 03, tờ bản đồ số 13; địa chỉ thửa đất thôn D, xã Đ (nay là TDP D, thị trấn T), diện tích 599,3m²; UBND huyện cấp GCNQSDĐ số AE 570901 ngày 14/12/2006 cho ông Nguyễn Văn A, bà Trần Thị H2.
  • - Ngày 27/01/2010, bà H2 tặng cho con gái là chị Nguyễn Thị H3 một phần diện tích của thửa đất trên là 150,0m² có xác nhận của phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện H. Sở Tài nguyên và môi trường cấp GCNQSDĐ cho chị Nguyễn Thị H3 số DB 534373 ngày 09/02/2021.
  • - Ngày 01/02/2010, hộ ông Nguyễn Văn A, bà Trần Thị H2 chuyển nhượng đất cho ông Ngô Văn B, và bà Lê Thị C một phần diện tích của thửa đất trên là 230,0m² có xác nhận của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện H. Ông Ngô Văn B, bà Lê Thị C được UBND huyện H cấp GCNQSDĐ số BB 137903 ngày 24/4/2010 thửa đất số 3, tờ bản đồ số 13.

Đối với nội dung biến động của các thửa đất trên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa liên hệ Chi nhánh VPĐKĐĐ để làm rõ nội dung này.

2.Thửa đất bà Trần Thị H2 tặng cho con gái là chị Nguyễn Thị H3 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp GCNQSDĐ số DB 534373 ngày 09/02/2021.

Đối với nội dung này thuộc thẩm quyền của Sở T nên UBND huyện H không có ý kiến, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa liên hệ với Sở T đề làm rõ.

3. Đối với thửa đất ông A, bà H2 chuyển nhượng cho ông B, bà C, được UBND huyện H cấp GCNQSDĐ số BB 137903 ngày24/4/2010.

Ngày 15/11/2005, ông Nguyễn Văn A, bà Trần Thị H2 làm đơn cấp đổi GCNQSDĐ theo đề án bản đồ địa chính trên địa bàn xã Đ cũ (nay là thị trấn T), tại thửa đất số 3, tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất thôn D, xã Đ (nay là TDP D, thị trấn T), huyện H, tỉnh Bắc Giang; nguồn gốc sử dụng đất lịch sử; tài sản gắn liền với đất là nhà ở cấp 4 có diện tích 63,0m². Không có xác nhận của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất (nay là Chi nhánh VPĐKQSDĐ).

Ngày 14/12/2006, UBNND huyện H cấp GCNQSDĐ số AE 570901cho ông Nguyễn Văn A, bà Trần Thị H2 tại thửa đất 3, tờ bản đồ số 13; địa chỉ thửa đất thôn D, xã Đ (nay là TDP D, thị trấn T), diện tích 599,3m² mục đích sử dụng đất là đất ở nông thôn, nguồn gốc sử dụng đất nhà nước công nhận QSD đất như Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất.

- Ông Nguyễn Văn A (đã chết), bà Trần Thị H2 chuyển nhượng đất cho ông Ngô Văn B, và bà Lê Thị C một phần diện tích của thửa đất trên là 230,0m² được UBND xã Đ cũ (nay là thị trấn T) chứng thực tại số B quyển số 04 TP/CC – SGT/HĐGD. Ông Ngô Văn B, bà Lê Thị C được UBND huyện H cấp GCNQSDĐ số BB 137903 ngày 24/4/2010 thửa đất số 3, tờ bản đồ số 13.

Theo Điều 676 của Bộ Luật Dân sự ngày 14/6/2005, do ông A đã chết năm 2007 nên những người thuộc hàng thừa kế đều được hưởng phần di sản của ông A để lại, nên Hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông B, bà C chưa đảm bảo theo quy định.

Hiện nay Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa đang giải quyết vụ án, UBND huyện sẽ thực hiện khi bản án có hiệu lực theo quy định.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Vũ Đình T2 và chị Hoàng Thị Thanh N trình bày: Khoảng năm 2012, vợ chồng anh chị đã nhận chuyển nhượng của chị Nguyễn Thị H3 (là con gái của bà Trần Thị H2) ở cùng địa chỉ thửa đất số 3, tờ bản đồ số 79, đất có diện tích khoảng 150 m² tại địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Thửa đất này chị H3 được bà H2 tặng cho. Thửa đất đã được sang tên cho vợ chồng anh chị. Đến khoảng năm 2020 thì anh chị lại chuyển nhượng lại thửa đất này cho chị Nguyễn Thị H3. Thửa đất đã được sang tên cho chị Nguyễn Thị H3. Việc mua bán chuyển nhượng đã được thanh toán xong. Hiện các bên không có tranh chấp gì về việc chuyển nhượng nhượng. Nay anh Nguyễn Văn H1 là anh trai của chị H3 đang có tranh chấp với bà Trần Thị H2 và chị Nguyễn Thị H3 đối với thửa đất này thì quan điểm của anh chị là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh chị không có ý kiến và không có yêu cầu gì. Do điều kiện công việc, đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt anh chị.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ là UBND thị trấn T không có quan điểm gì đối với yêu cầu khởi kiện cũng như yêu cầu và ý kiến của các đương sự khác.

* Qua làm việc với anh Hoàng Anh T3, sinh năm 1975. Cư trú: Tổ dân phố số B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Anh T3 cho biết: Anh là chồng của chị Nguyễn Thị H3 là bị đơn trong trong vụ án “Tranh chấp hợp đồng dân sự; tranh chấp về thừa kế tài sản” giữa anh Nguyễn Văn H1 với bà Trần Thị H2 và chị Nguyễn Thị H3. Năm 2010, chị H3 được mẹ đẻ là bà Trần Thị H2 tặng cho thửa đất nay là thửa đất số 3, tờ bản đồ số 79, đất có diện tích khoảng 150 m² tại địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Khoảng năm 2012, chị H3 có chuyển nhượng thửa đất này cho vợ chồng ông Vũ Đình T2 và bà Hoàng Thị Thanh N. Đến khoảng năm 2020 thì vợ chồng ông Vũ Đình T2 và bà Hoàng Thị Thanh N lại chuyển nhượng lại thửa đất này cho chị Nguyễn Thị H3. Thửa đất đã được sang tên cho chị Nguyễn Thị H3. Việc mua bán chuyển nhượng đã được thanh toán xong. Hiện các bên không có tranh chấp gì về việc chuyển nhượng nhượng. Anh xác định thửa đất này là tài sản riêng của chị Nguyễn Thị H3 (do được tặng cho riêng). Nay anh Nguyễn Văn H1 là anh trai của chị H3 đang có tranh chấp với bà Trần Thị H2 và chị Nguyễn Thị H3 đối với thửa đất này thì quan điểm của anh là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Anh không có ý kiến và không có yêu cầu gì. Đề nghị Tòa án không đưa anh vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

* Tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, kết quả như sau:

  • + Thửa đất số 03 tờ bản đồ số 13 nay là thửa số 156, tờ bản đồ 107 có diện tích 236,6 m² tại địa chỉ tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Thửa đất hiện do vợ chồng ông Ngô Văn B, bà Lê Thị C đang quản lý sử dụng. Tài sản trên đất gồm 01 cổng, 01 sân, 01 nhà 3 tầng, 01 khu công trình nhà vệ sinh.
  • + Thửa đất số 03 tờ bản đồ 70, nay là thửa số 03, tờ bản đồ 107, đất có diện tích 145,4 m²; trên đất có một phần của ngôi nhà do chị Nguyễn Thị H5 đang quản lý sử dụng có diện tích 7,8 m².
  • + Thửa đất 03 tờ bản đồ 70, nay là thửa số 157, tờ bản đồ 107 có diện tích 202,1 m², trên đất có:
    • Tài sản do bà H2 đang sử dụng: 04 gian nhà cấp 4 có diện tích 58,2 m² do ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị H2 xây dựng năm 1987, không xác định giá trị; khu nhà tắm, nhà vệ sinh có giá 6.000.000 đồng.
    • Tài sản do chị H5 đang quản lý sử dụng: 01 nhà cấp 04 xây dựng năm 2005, được cải tạo năm 2022, xây tường 10, mái tôn chống nóng, nền lát gạch men, có diện tích 41 m² có giá 70.000.000 đồng (Trong đó phần diện tích 7,8 m2 nằm trên thửa đất có diện tích 145,4 m².

Về giá đất đất ở: 8.000.000 đồng/m².

Kết quả giám định chữ ký, chữ viết: Trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn là anh Nguyễn Văn H1 có yêu cầu giám định đối với chữ ký và chữ viết của ông A, bà H7. Tòa án đã trưng cầu giám định để xác định chữ ký và chữ viết của ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị H2. Phòng K - Công an tỉnh B có văn bản trả lời: Không giám định chữ viết có nội dung “Nguyễn Văn A” dưới mục “Người chuyển nhượng quyền sử dụng đất” trên tài liệu cần giám định so với chữ viết mang tên Nguyễn Văn A trên tài liệu mẫu do số lượng mẫu so sánh ít, không đủ đặc điểm để truy nguyên; không có căn cứ để xác định thời điểm viết của chữ ký thứ hai tính từ trái sang phải dưới mục “Người chuyển nhượng quyền sử dụng đất” trên “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất” đề ngày 01/9/2006 so với chữ ký mang tên Trần Thị H2 dưới mục “Người nhận tiền” trên “Giấy xác nhận” đề ngày 01/9/2006, không kết luận giám định do không có mẫu so sánh cùng dạng.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án.

- Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 3 Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 631, Điều 633, Điều 634, Điều 635, Điều 674, Điều 675, Điều 676, Điều 685 của Bộ luật dân sự năm 2005. Các Điều 116, Điều 117, Điều 129, Điều 502, Điều 503, Điều 609, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 33, Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, khoản 3 Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các Điều 631, Điều 633, Điều 634, Điều 635, Điều 674, Điều 675, Điều 676, Điều 685 của Bộ luật dân sự năm 2005. Các Điều 116, Điều 117, Điều 129, Điều 502, Điều 503, Điều 609, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 660 của Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 33, Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

1- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H1 về việc:

  • + Yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị H2 với ông Ngô Văn B, bà Lê Thị C được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H (nay là TT Thắng, huyện H) chứng thực ngày 25/01/2010 đối với thửa đất số 03 tờ bản đồ số 13 nay là thửa số 156, tờ bản đồ 107 có diện tích 236,6 m² tại địa chỉ tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Thửa đất hiện do vợ chồng ông Ngô Văn B, bà Lê Thị C đang quản lý sử dụng.
  • + Yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị H2 và chị Nguyễn Thị H3 được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H (nay là TT Thắng, huyện H) chứng thực ngày 25/01/2010 đối với thửa đất số 03 tờ bản đồ 70, nay là thửa số 03, tờ bản đồ 107, đất có diện tích 145,4 m² chị Nguyễn Thị H3 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp GCNQSDĐ số DB 534373 ngày 09/02/2021.

2- Chị Nguyễn Thị H5 được chia quyền sử dụng đất là hình A1A2A5A6 có diện tích 104,2 m² nằm trong tổng diện tích 202,1 m² tại thửa số 157, tờ bản đồ 107, tại địa chỉ tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Đất đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 570901 ngày 14/12/2006 cho ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị H2. Trên đất có một phần ngôi nhà có diện tích 6,0 m². (Như sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo bản án).

3- Chị Nguyễn Thị H3 được chia quyền sử dụng đất là hình A2A3A4A5 có diện tích 97,9 m² nằm trong tổng diện tích 202,1 m² tại thửa số 157, tờ bản đồ 107, tại địa chỉ tổ dân phố D, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Đất đã được UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 570901 ngày 14/12/2006 cho ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị H2. Trên đất có một phần ngôi nhà cấp 4 có diện tích 27,2 m² (Như sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo bản án).

Chị Nguyễn Thị H3 có nghĩa vụ trả cho Nguyễn Thị H5 số tiền 46.439.000 đồng.

4- Về án phí:

  • - Anh H1 phải chịu 600.000 đồng án phí DSST không có giá ngạch nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 10.600.000 đồng theo biên lai thu số 0012231 ngày 31/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang. Hoàn trả anh H1 số tiền tạm ứng án phí còn lại 10.000.000 đồng theo biên lai trên.
  • - Chị Nguyễn Thị H5 phải chịu 37.020.000 đồng án phí DSST.
  • - Chị Nguyễn Thị H3 phải chịu 35.312.000 đồng án phí DSST.

5- Về chi phí tố tụng:

  • - Buộc chị Nguyễn Thị H3 phải chịu 2.500.000 đồng và chị H5 phải chịu 2.586.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
  • - Anh H1 được nhận lại tổng số tiền này khi chị H5 và chị H3 nộp.

6- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

7- Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

8- Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Hiệp Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Chuyền

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HIỆP HÒA

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HIỆN TRẠNG THỬA ĐẤT

(Kèm theo Bản án dân sự sơ thẩm số: 41/2024/DSST ngày 17/6/2024)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Thị Chuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/DS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự; tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 41/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự; tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng dân sự và tranh chấp hợp đồng thwuaf kế tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger