Hệ thống pháp luật

1

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HS-ST

Ngày 17 tháng 5 năm 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Hoàng - Cán bộ hưu trí và ông Trần Quang Thái - Phó Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Định Mỹ, Thoại Sơn, An Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Ngọc Sử và bà Bùi Phương Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 09, 10 và ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Cao Minh H (Hiếu Lễ), sinh ngày 26/01/1990. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Minh L, sinh năm 1963 và bà Lê Thị H1, sinh năm 1962; anh, chị, em có hai người, bị cáo là người thứ hai; Vợ là Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1993; Con tên Cao Minh Hồng Â, sinh năm 2022.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/9/2023 cho đến nay.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Nghiêm Văn H2 (Rựa), sinh ngày 10/9/1999. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nghiêm Văn Đ, sinh năm 1979 và bà Mai Thị H3, sinh năm 1974; anh, chị, em có ba người, bị cáo là người thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/9/2023 cho đến nay.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. 2

  4. Ngô Minh T1 (Tiến Ngô), sinh ngày 03/02/2005. Nơi cư trú: ấp P, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh X, sinh năm 1963 và bà Ngô Thị Tuyết M, sinh năm 1985; bị cáo là con một trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con. Ngày 30/9/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 02 năm 06 tháng tù về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giam trong vụ án khác.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  5. Nguyễn Minh L1, sinh ngày 10/10/2003. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh T2, sinh năm 1952 và bà Võ Thị Ú, sinh năm 1970; anh, chị, em có năm người, bị cáo là người thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con. Ngày 30/9/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 03 năm tù về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 03/8/2023 đến ngày 12/8/2023 tạm giam cho đến nay.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  6. Lương Thanh P, sinh ngày 02/7/2000. Nơi cư trú: ấp P, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn B, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1973; Bị cáo là con một trong gia đình; bị cáo chưa có vợ, con. Ngày 10/10/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam trong vụ án khác.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  7. Trần Vĩnh K, sinh ngày 10/8/1990. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn B1, sinh năm 1956 và bà Phan Thị N, sinh năm 1961; anh, chị, em có ba người, bị cáo là người thứ ba; bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/9/2023 cho đến nay.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  8. 3

  9. Trần Minh T3, sinh năm 1991. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M1 (đã chết) và bà Võ Thị Bo B2, sinh năm 1965; anh, chị, em có năm người, bị cáo là người thứ hai; Vợ là Lâm Thị H4, sinh năm 1990; Con tên Trần Tuệ M2, sinh năm 2019. Ngày 04/9/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 04 năm 06 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, đến ngày 26/7/2013 chấp hành xong bản án.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/9/2023 cho đến nay.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  10. Huỳnh Bảo D (B4), sinh ngày 02/10/2007. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Thanh S, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị T4 (đã chết); anh, chị, em có hai người, bị cáo là người thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con. Ngày 06/10/2023, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T khởi tố về hành vi “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam trong vụ án khác.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  11. Phan Thanh Vũ E, sinh ngày 05/11/1999. Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Thanh T5, sinh năm 1977 và bà Trần Thị S1, sinh năm 1976; anh, chị, em có ba người, bị cáo là người thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con. Ngày 18/01/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 02 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

    Ngày 30/11/2018, bị tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 250 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt của 02 bản án buộc bị can chấp hành là 03 năm 03 tháng 17 ngày, đến ngày 04/10/2021 chấp hành xong bản án.

    Ngày 15/02/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, Thành phố Cần Thơ ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 16 tháng, về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/10/2023 cho đến nay.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  12. Nguyễn Hữu N1 (Lùn), sinh ngày 23/4/1996. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm ruộng; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị Thanh T6, sinh năm 1969; anh, chị, em có hai người, bị cáo là người thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/9/2023 cho đến nay.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  13. 4

  14. Cao Minh T7 (Cụi Em), sinh ngày 11/9/2004. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Minh N2, sinh năm 1971 và bà Võ Thị P1, sinh năm 1971; anh, chị, em có hai người, bị cáo là người thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/9/2023 cho đến nay.

    Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Huỳnh Bảo D: Ông Huỳnh Thanh H5, sinh năm 1977. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

Bị hại:

  1. Anh Lê Quốc V, sinh năm 1984. Nơi cư trú: khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

  2. Anh Phạm Văn T8, sinh năm 1983. Nơi cư trú: khóm N, thị trấn N, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

  3. Anh Trần Bình T9, sinh năm 2001. Nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị H1, sinh năm 1962. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

  2. Bà Mai Thị H3, sinh năm 1974. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

  3. Bà Võ Thị P1, sinh năm 1971. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).

Người làm chứng:

  1. Anh Trần Văn H6, sinh năm 1985 (vắng mặt).

  2. Anh Lê Quang H7, sinh năm 1990 (có mặt).

  3. Anh Lê Nhật M3, sinh năm 1990 (vắng mặt).

  4. Chị Huỳnh Thị Phương A, sinh năm 1992 (có mặt).

  5. Chị Huỳnh Thị Mỹ P2, sinh năm 1983 (vắng mặt)

  6. 5

  7. Anh Nguyễn Quốc B3, sinh ngày 29/3/1998 (vắng mặt).

  8. Ông Hồ Quốc H8, sinh năm 1977 (vắng mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Bảo D: Ông Phạm Minh T10 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm T12 (có mặt).

Người bào chữa cho các bị cáo Cao Minh H và Cao Minh T7: Ông Lại Văn G1 - Luật sư Công ty L2, thuộc đoàn Luật sư tỉnh A. Địa chỉ: số C B, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 22 giờ 45 phút ngày 12/11/2022, Cao Minh H cùng Trần Vĩnh K, Lương Thanh P, Nguyễn Hữu N1 (Lùn), Cao Minh T7 (C), Huỳnh Bảo D (B) tổ chức uống rượu tại nhà của H ở ấp H, xã Đ, huyện T thì phát hiện 02 thanh niên lạ mặt chạy xe máy cầm vợt lưới, giỏ xách nên nhóm của H nghi ngờ 02 thanh niên đi trộm chó, mèo nên nhóm của H đuổi theo chặn xe đánh và lấy vợt, giỏ xách ném xuống kênh T.

Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 13/11/2022, H thấy Trần Văn H6 (H) cùng 03 thanh niên chạy xe mô tô ngang quán của H tại ấp H, xã Đ, huyện T, nhiều lần thì H nghĩ H6 tìm nhóm H trả thù, do trước đó H đánh 02 thanh niên trên. Do lo sợ bị trả thù nên trong lúc tổ chức uống rượu cùng với K, N1, P, T7, D, Nghiêm Văn H2 (Rựa), Trần Minh T3 tại quán cà phê, H điện thoại cho Nguyễn Minh L1 kể lại việc nhóm H6 chạy ra nhà tìm H. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, Phan Thanh Vũ E điều khiển xe mô tô chưa rõ biển số chở L1 từ khu dân cư K, thị trấn N về hướng cầu kênh E thì phát hiện H6, Huỳnh Thị Mỹ P2, Lê Quang H7, Huỳnh Thị Phương A, Phạm Văn T8, Trần Bình T9, Lê Nhật M3, Lê Quốc V, Ngô Hồng P3 và người tên T11 chưa rõ họ, địa chỉ cụ thể đang uống bia trước cửa nhà thuê của H6 tại khóm T, thị trấn N, huyện T. Khi này, L1 lấy điện thoại gọi qua facebook nói lại cho H biết “Nó đang nhậu trước cửa, anh chạy vô chém nó”. Nghe xong, liền rủ cả nhóm đang uống rượu tại nhà H vào chém nhóm H6, cả nhóm đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 67B1-583.85 chở K; N1 điều khiển xe mô tô chưa rõ biển số chở T9; P điều khiển xe mô tô chưa rõ biển số chở H7; Cao Minh T7 điều khiển xe mô tô chưa rõ biển số chở D, còn Vũ E điều khiển xe mô tô chưa rõ biển số chở L1 đến nhà của Hồ Quốc H8 (T) ở khóm Đ, thị trấn N, huyện T. H kể lại sự việc mâu thuẫn với H6 cho H8 nghe và L1 về nói lại với H8 tham gia cùng với H đi chém nhóm Hiền Đ1 thì H8 đồng ý và kêu L1, Vũ E, Ngô Minh T1 (Tiến Ngô) tham gia tiếp H. Sau đó, L1, T1, H đến khu vực chuồng gà nhà H8 lấy 07 cây dao tự chế được để trong bao rồi L1, T1, K, T9, H7, P, D mỗi người cầm một cây dao tự chế. Vũ E điều khiển xe mô tô chưa rõ biển số chở L1, T1 chạy trước dẫn đường; H điều khiển xe mô tô biển số 67B1-583.85 chở K; N1 điều khiển xe mô tô chưa rõ biển số chở T9; P điều khiển xe mô tô chưa rõ biển số chở H7; Cao Minh T7 điều khiển xe mô tô chưa rõ biển số chở D chạy đến nhà H6 đang uống rượu. Khi này, nhóm của H6 nhìn thấy đứng lên bỏ chạy bị L1, T7, K, T9, H7, P, D cầm dao tự chế đuổi theo. T7 cầm dao chém trúng vai T8 và dùng ly thủy tinh,

6

chén ném vào nhà H6 làm trúng mắt trái của T9 gây thương tích. T8, V bỏ chạy về hướng Trung tâm dạy nghề thì bị H7 dùng dao chém vào lưng, tay, chân V nhiều cái. Sau đó, nhóm của H quay lại lấy xe điều khiển về nhà H8 trả lại các con dao tự chế, xong giải tán; Vũ E, T7, L1 ở lại nhà H8. Riêng Trọng, T8, V được người dân đưa đến Trung tâm y tế huyện T cấp cứu, điều trị, đến ngày 16/11/2022, 18/11/2022, 21/11/2022, T9, T8, V ra viện.

Ngày 14/11/2022, H6 đến Công an thị trấn N trình báo và ngày 16/11/2022, T9, V, T8 có đơn yêu cầu xử lý hình sự.

Ngày 03/8/2023, L1 đến Cơ quan điều tra đầu thú.

Vật chứng thu giữ: 01 ly thủy tinh bị vỡ, 01 cây dao bị gãy thành 02 đoạn. 01 bao da màu nâu, 01 túi giấy đựng vết nâu đỏ, 01 xe mô tô biển số 67B1-583.85, nhãn hiệu Honda Click, màu trắng - đen, số máy: 0041555; số khung: 341469.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 690/22/TgT, số 691/22/TgT ngày 16/12/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh T12, ghi nhận thương tích đối với:

Phạm Văn T8, sinh năm 1983:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

  • Sẹo vai phải dạng vát, hình vòng cung, kích thước (7.5 x 0.6)cm, sẹo lồi lõm, bờ sắc gọn.

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là: 03%.

- Kết luận khác: Thương tích trên do vật sắc gây nên.

Lê Quốc V, sinh năm 1984:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

  • Sẹo lưng phải trùng vết mổ, kích thước (23 x 0.2)cm, sẹo lồi lõm, hồng, sắc gọn: tỷ lệ là 03%.

  • Sẹo nằm ngang mặt ngoài 1/3 trên cánh tay phải, kích thước (03 x 0.2)cm + đuôi sây sát, kích thước (4.5 x 0.3)cm, sẹo hồng, lồi, bờ sắc gọn. (Sẹo mổ đầu trên kích thước (02 x 0.1)cm, sẹo mổ đầu dưới kích thước (3.7 x 0.1) cm). Gây đứt hoàn toàn thần kinh quay, đứt cơ tam đầu cánh tay, đã phẫu thuật khâu nối thần kinh và cơ: tỷ lệ là 47%.

  • Sẹo nằm ngang mặt ngoài sau 1/3 trên cẳng tay trái, kích thước (06 x 0.1)cm + đuôi sây sát, kích thước (2.5 x 0.1)cm, sẹo lõm, sậm màu, bờ sắc gọn. (Sẹo mổ đầu dưới đứng dọc, kích thước (3.5 x 0.1)cm). Gây rạn nứt 1/3 trên xương trụ trái tương ứng với sẹo bên ngoài; đứt cơ duỗi chung các ngón, cơ cánh tay quay, đã phẫu thuật khâu nối cơ: tỷ lệ là 06%.

  • Sẹo mặt trước 1/3 trên cẳng chân phải, nằm ngang, kích thước (06 x 0.1)cm, sẹo lồi lõm, màu hồng, bờ sắc gọn: tỷ lệ là 02%.

7

  • Sẹo mặt trước 1/3 dưới cẳng chân trái, nằm ngang, kích thước (06 x 0.1)cm, sẹo lõm, sậm màu, bờ sắc gọn. (Sẹo mổ đứng dọc đầu trên kích thước (04 x 0.1)cm, sẹo mổ đứng dọc đầu dưới kích thước (04 x 0,1)cm). Gây rạn nứt 1/3 dưới xương chày trái tương ứng với sẹo bên ngoài; đứt gân chày trước, gân duỗi ngón I, duỗi chung các ngón, đã phẫu thuật khâu nối gân. Hiện tại hạn chế động tác duỗi cổ chân: tỷ lệ là 12%.

- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 58%.

- Kết luận khác: Thương tích trên do vật sắc gây nên.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 454/23/KLTTCT-TTPY ngày 10/7/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T12, ghi nhận thương tích đối với Trần Bình T9, sinh năm 2001:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

  • Sẹo mi trên mắt phải kích thước (03 x 0.2)cm, nằm xiên, phẳng, mờ, gần tiệp màu da lành, không khâu.

  • Sẹo mi dưới mắt phải hình vòng cung kích thước (03 x 0.2)cm, phẳng, mờ, gần tiệp màu da lành, có khâu.

  • Gây: nứt sọ trán phải, vỡ bờ trước xoang hàm phải. Đứt chân mống mắt phải, mắt phải thủy tinh thể đục lệch, tổn thương hoàng điểm mắt phải.

  • Thị lực: mắt phải sáng tối dương tính, mắt trái 10/10.

- Kết luận: Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên của Trần Bình T9, tại thời điểm giám định là 42%.

- Kết luận khác: Thương tích trên do vật tày gây nên.

Ngày 11/8/2023, ngày 18/9/2023, ngày 28/9/2023, L1, H, P, Vũ E, Ngô Minh T1, H7, N1, Cao Minh T7, K, T9, D bị khởi tố điều tra.

Tại Cáo trạng số 11/CT-VKSTS-HS ngày 05/01/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố các bị cáo Cao Minh H (H), Nghiêm Văn H2 (R), Ngô Minh T1 (T), Nguyễn Minh L1, Lương Thanh P, Trần Vĩnh K, Trần Minh T3, Huỳnh Bảo D (B), Phan Thanh Vũ E, Nguyễn Hữu N1 (L), Cao Minh T7 (C) về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 4 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Cao Minh H, Cao Minh T7, Nghiêm Văn H2, Trần Minh T3, Nguyễn Hữu N1, Phan Thanh Vũ E, Lương Thanh P, Ngô Minh T1, Nguyễn Minh L1, Huỳnh Bảo D đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Tại phiên tòa, các bị cáo Cao Minh H, Nghiêm Văn H2, Ngô Minh T1, Nguyễn Minh L1, Lương Thanh P, Trần Vĩnh K, Trần Minh T3, Huỳnh Bảo D, Phan Thanh Vũ E, Nguyễn Hữu N1, Cao Minh T7 vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên và Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

8

Các bị hại Lê Quốc V, Trần Bình T9, Phạm Văn T8 nêu quan điểm. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; về phần trách nhiệm dân sự bị hại T8 đã nhận số tiền bồi thường 12.000.000 đồng nên không yêu cầu bồi thường thêm; bị hại Trần Bình T9 đã nhận số tiền 19.500.000 đồng và yêu cầu bồi thường thêm số tiền 41.000.000 đồng và bị hại V yêu cầu bồi thường 160.000.000 đồng.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều khai phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện Kiểm sát luận tội đối với các bị cáo giữ nguyên truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm đ khoản 4 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt đối với bị cáo Cao Minh H từ 07 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

  • Áp dụng điểm đ khoản 4 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt đối với bị cáo Nghiêm Văn H2 từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

  • Áp dụng điểm đ khoản 4 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58, Điều 56, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt đối với bị cáo Ngô Minh T1 từ 04 năm đến 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp Bản án hình sự phúc thẩm số 152/2023/HS-PT ngày 13/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù. Buộc bị cáo chấp hành chung cho hai bản án từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm 06 tháng tù.

  • Áp dụng điểm đ khoản 4 Điều 134, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Minh L1 từ 07 năm đến 09 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2023/HS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 03 năm tù. Buộc bị cáo chấp hành chung cho hai bản án từ 10 năm đến 12 năm tù.

  • Áp dụng điểm đ khoản 4 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt đối với bị cáo Lương Thanh P từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Tổng hợp Bản án hình sự sơ thẩm số 251/2023/HS-ST ngày 10/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù. Buộc bị cáo chấp hành chung cho hai bản án từ 07 năm đến 08 năm tù.

  • Áp dụng điểm đ khoản 4 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt

9

đối với Trần Minh T3, Nguyễn Hữu N1, Cao Minh T7, Trần Vĩnh K mỗi bị cáo từ 05 năm đến 06 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

  • Áp dụng điểm đ khoản 4 Điều 134, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt đối với bị cáo Phan Thanh Vũ E từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

  • Áp dụng điểm đ khoản 4 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt đối với bị cáo Huỳnh Bảo D từ 02 năm đến 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về xử lý vật chứng đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử lý theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo Cao Minh H và Cao Minh T7: Luật sư Lại Văn G1 đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự. tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H, đồng thời đề nghị áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, giảm nhẹ hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

Trợ giúp viên pháp lý ông Phạm Minh T10 trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo Huỳnh Bảo D: Đồng ý với quan điểm của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, giảm nhẹ hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

Bị cáo Cao Minh H, Cao Minh T7, Huỳnh Bảo D nhất trí với bản luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa, đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị cáo Nghiêm Văn H2, Ngô Minh T1, Nguyễn Minh L1, Lương Thanh P, Trần Vĩnh K, Trần Minh T3, Phan Thanh Vũ E, Nguyễn Hữu N1 không tranh luận với Kiểm sát viên. Các bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình và ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo; bị hại, người đại diện theo pháp luật của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

10

tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa có người làm chứng vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sau khi vụ án xảy ra người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Ngày 13/11/2022, vì duyên cớ nhỏ nhặt Cao Minh H rủ Cao Minh T7, Nghiêm Văn H2, Trần Minh T3, Nguyễn Hữu N1, Phan Thanh Vũ E, Lương Thanh P, Trần Vĩnh K, Ngô Minh T1, Nguyễn Minh L1, Huỳnh Bảo D (sinh ngày 02/10/2007) sử dụng dao tự chế, ly thủy tinh là hung khí nguy hiểm chém, ném Lê Quốc V gây thương tích 58%, Trần Bình T9 gây thương tích 42%, Phạm Văn T8 gây thương tích 03%.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, có khung hình phạt tù từ 07 năm đến 14 năm.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của con người, đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ làm cho quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Các bị cáo xuất thân từ thành phần lao động, trước khi phạm tội là những người chưa có tiền án, tiền sự. Nhưng hành vi của các bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý; động cơ, mục đích của tội phạm là dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho nhiều người với tỷ lệ tổn thương cơ thể rất cao, thể hiện tính côn đồ hung hãn.

Đây là vụ án đồng phạm, nhưng thuộc trường hợp giản đơn, tuy nhiên cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.

Trước hết đối với bị cáo Nguyễn Minh L1 và Cao Minh H, hai bị cáo giữ vai trò chính trong vụ án. Bị cáo H là người điện thoại cho bị cáo L1 biết việc mâu thuẫn xảy ra giữa bị cáo với Trần Văn H6 và khi bị cáo L1 phát hiện H6 tại

11

nhà thì điện thoại cho bị cáo H biết để vào chém nhóm của H6. Tiếp theo, bị cáo H đã rủ rê, lôi kéo các bị cáo Nghiêm Văn H2, Lương Thanh P, Trần Vĩnh K, Trần Minh T3, Nguyễn Hữu N1, Cao Minh T7 và Huỳnh Bảo D (chưa thành niên) để tiếp chém nhóm của H6. Tuy bị cáo H và L1 không trực tiếp gây thương tích cho các bị hại nhưng đã khởi xướng vụ việc, dẫn đến Ngô Minh T1 và Nghiêm Văn H2 gây thương tích cho các bị hại.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân. Trong đó bị cáo H đã xúi giục bị cáo D là người dưới 18 tuổi tham gia cùng bị cáo. Xét nhân thân bị cáo L1 thì thấy, sau khi tham gia gây thương tích trong vụ án này, bị cáo còn tiếp tục thực hiện tội phạm mới và bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Điều đó cho thấy, ý thức bị cáo L1 là người rất xem thường pháp luật. Do đó khi lượng hình, cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Đối với bị cáo Ngô Minh T1 là người trực tiếp dùng dao tự chế chém Phạm Văn T8 gây thương tích 03% và dùng ly thủy tinh ném trúng mắt Trần Bình T9 gây thương tích 42%. Bị cáo Nghiêm Văn H2 trực tiếp dùng dao tự chế chém Lê Quốc V gây thương tích 58%. Hành vi của các bị cáo đã xâm hại đến sức khỏe các bị hại. Trong đó bị cáo Ngô Minh T1 gây thương tích cho 02 người. Xét nhân thân bị cáo Ngô Minh T1 cho thấy, bị cáo là đồng phạm cùng với bị cáo L1 trong vụ án cố ý gây thương tích đã bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 02 năm 06 tháng tù vào ngày 30/9/2023. Do đó, bị cáo T1 phải chịu trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn bị cáo H2. Đối với bị cáo T1, khi lượng hình cần xem xét khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên áp dụng chính sách người chưa thành niên phạm tội đối với bị cáo nhằm thể hiện tính nhân văn của pháp luật.

Đối với các bị cáo Lương Thanh P, Trần Vĩnh K, Trần Minh T3, Huỳnh Bảo D, Nguyễn Hữu N1, Cao Minh T7, Phan Thanh Vũ E, mặc dù không trực tiếp gây thương tích cho các bị hại nhưng có vai trò quan trọng trong vụ án, các bị cáo giúp sức cùng bị cáo H, L1 để thực hiện hành vi phạm tội. Trong đó, các bị cáo Vũ E, N1, P, T7 dùng xe chở các bị cáo khác và K, T3, P, D là những người cầm hung khí dao tự chế, rượt đuổi nhóm H6. Xét nhân thân các bị cáo P, T3, Vũ E, D là những người có nhân thân xấu, hiện đang bị điều tra do thực hiện hành vi phạm tội và trước đây đã bị xét xử về nhiều tội danh khác nhau.

Hành vi phạm tội của các bị cáo cũng đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần có mức hình phạt nghiêm, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội các bị cáo đã gây ra nhằm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo D khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng chính sách người chưa thành niên phạm tội đối với bị cáo;

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Cao Minh H xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

12

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Riêng các bị cáo Cao Minh H, Nghiêm Văn H2, Cao Minh T7, Ngô Minh T1, Huỳnh Bảo D, Lương Thanh P, Trần Minh T3, Nguyễn Hữu N1 đã khắc phục hậu quả nên được áp dụng điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo L1 sau khi phạm tội đến Công an đầu thú được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại T3 xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo H, T3 và bị hại T8, bị hại V xin giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo nên được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H, H2, K có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo D phạm tội là người dưới 18 tuổi nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo H có cha được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều Bằng khen, Giấy khen, Huy hiệu, trong đó có danh hiệu Thầy thuốc ưu tú do Chủ tịch nước trao tặng trong sự nghiệp bảo vệ và nâng cao sức khỏe của nhân dân. Bị cáo L1 có cha được Đảng, Nhà nước tặng thưởng nhiều huy chương vì sự nghiệp Cựu chiến binh Việt Nam.

[5] Đối với bị cáo Ngô Minh T1 (T) khi quyết định hình phạt cần tổng hợp hình phạt của bản án hình sự phúc thẩm số 152/2023/HS-PT ngày 13/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, bị cáo Nguyễn Minh L1 tổng hợp hình phạt của bản án hình sự sơ thẩm số 67/2023/HS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn và bị cáo Lương Thanh P tổng hợp hình phạt của bản án số 251/2023/HSST ngày 10/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã có hiệu lực pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Đối với bị hại Phạm Văn T8 đã nhận số tiền 12.000.000 đồng (của H 5.000.000 đồng; Cao Minh T7 5.000.000 đồng; T3 1.000.000 đồng; N1 1.000.000 đồng) và tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu bồi thường thêm nên không đề cập giải quyết.

Đối với bị hại Trần Bình T9, sau khi vụ án xảy ra đã nhận số tiền 19.500.000 đồng (của H 8.000.000 đồng; Cao Minh T7 5.000.000 đồng; T9 2.000.000 đồng; N1 2.000.000 đồng; H2 2.500.000 đồng) và yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm chi phí điều trị, tiền công lao động bị mất và tổn thất tinh thần số tiền 41.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bị hại T9 và các bị cáo đã thống nhất thỏa thuận số tiền bồi thường thêm là 39.000.000 đồng cụ thể như sau: Ngô Minh T1 bồi thường cho T9 là 15.000.000 đồng, Cao Minh H bồi thường cho T9 10.000.000 đồng, Nguyễn Minh L1 bồi thường cho T9 6.000.000 đồng. Ngoài ra, gia đình các bị cáo đã khắc phục thêm được 8.000.000 đồng gồm: Trần Minh T3 số tiền 500.000 đồng, Lương Thanh P số tiền 2.500.000 đồng, Ngô Minh T1 số tiền 1.500.000 đồng, Trần Vĩnh K số tiền 2.500.000 đồng, Huỳnh Bảo D số tiền 1.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 39.000.000 đồng. Xét thấy thỏa thuận này không trái pháp luật nên được Hội đồng xét xử công nhận.

Đối với bị hại Lê Quốc V yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí điều trị 50.000.000 đồng, tiền công lao động bị mất 20.000.000 đồng và tổn thất tinh thần số tiền 90.000.000 đồng, tổng cộng là 160.000.000 đồng. Xét thấy yêu cầu

13

của bị hại không cung cấp được chứng cứ chứng minh chi phí điều trị và tiền công lao động bị mất, nên cần điều chỉnh lại và chấp nhận như sau:

Chi phí điều trị 30.000.000 đồng

Tiền công lao động bị mất 9.000.000 đồng

Tổn thất tinh thần 10 tháng x 1.800.000 đồng = 18.000.000 đồng

Tổng cộng: 57.000.000 đồng

Quá trình điều tra, các bị cáo đã nộp tiền bồi thường thiệt hại cho V được 19.500.000 đồng cụ thể: bị cáo H nộp 8.000.000 đồng, bị cáo Cao Minh T7 (C) nộp 5.000.000 đồng, bị cáo N1 (Lùn) nộp 2.000.000 đồng, bị cáo T3 nộp 2.000.000 đồng, bị cáo H2 (Rựa) nộp 2.500.000 đồng.

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, gia đình bị cáo T3 đã khắc phục thêm cho V được 3.000.000 đồng (mẹ bị hại V đã nhận); ngoài ra, gia đình các bị cáo đã khắc phục thêm cho bị hại V được số tiền 13.000.000 đồng gồm: bị cáo D 1.000.000 đồng; bị cáo K 2.500.000 đồng; bị cáo Ngô Minh T1 1.500.000 đồng; bị cáo P 2.500.000 đồng; bị cáo H2 (R) 5.000.000 đồng; bị cáo T3 500.000 đồng. Tổng số tiền đã bồi thường cho bị hại V là 35.500.000 đồng, số tiền còn lại phải bồi thường là 21.500.000 đồng. Do bị cáo Nghiêm Văn H2 (R) trực tiếp gây thương tích cho bị hại V và các bị cáo Cao Minh H (H), Nghiêm Văn H2 (R), Ngô Minh T1 (T), Nguyễn Minh L1, Lương Thanh P, Trần Vĩnh K, Trần Minh T3, Huỳnh Bảo D (B), Nguyễn Hữu N1 (L), Cao Minh T7 (C) đã liên đới bồi thường cho bị hại Phạm Văn T8 và Trần Bình T9, nên số tiền 21.500.000 đồng còn lại bị cáo Phan Thanh Vũ E là người giữ vai trò quan trọng trong vụ án và Nghiêm Văn H2 (Rựa) có trách nhiệm liên đới bồi thường mỗi bị cáo là 10.750.000 đồng.

[7] Đối với hành vi của Hồ Quốc H8, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định tách vụ án tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô biển số 67B1-583.85, nhãn hiệu Honda Click, màu trắng-đen, số máy: 0041555; số khung: 341469 không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho chủ sở hữu. Đối với 01 ly thủy tinh bị vỡ, 01 cây dao bị gãy thành 02 đoạn, 01 bao da màu nâu, 01 túi giấy đựng vết nâu đỏ không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy. Đối với số tiền 19.500.000 đồng các bị cáo đã nộp, tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[9] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Cao Minh H (H), Nghiêm Văn H2 (R), Ngô Minh T1 (T), Nguyễn Minh L1, Lương Thanh P, Trần Vĩnh K, Trần Minh T3, Huỳnh Bảo D (B), Phan Thanh Vũ E, Nguyễn Hữu N1 (L), Cao Minh T7 (C) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

14

Căn cứ điểm đ khoản 4 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Cao Minh H (Hiếu Lễ) 07 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 28 tháng 9 năm 2023.

Căn cứ điểm đ khoản 4 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nghiêm Văn H2 (R) 06 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 28 tháng 9 năm 2023.

Căn cứ điểm đ khoản 4 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 56, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt bị cáo Ngô Minh T1 (Tiến Ngô) 04 năm tù. Tổng hợp hình phạt Bản án hình sự sơ thẩm số 152/2023/HS-PT ngày 13/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 08 tháng 6 năm 2023.

Căn cứ điểm đ khoản 4 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L1 07 năm 06 tháng tù. Tổng hợp hình phạt Bản án hình sự sơ thẩm số 67/2023/HS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn xử phạt 03 năm tù. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 10 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 8 năm 2023.

Căn cứ điểm đ khoản 4 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 56, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Lương Thanh P 05 năm tù. Tổng hợp hình phạt Bản án hình sự sơ thẩm số 251/2023/HS-ST ngày 10/10/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 07 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 01 tháng 02 năm 2023.

Căn cứ điểm đ khoản 4 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Trần Minh T3 05 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 28 tháng 9 năm 2023.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N1 05 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 28 tháng 9 năm 2023.

Xử phạt bị cáo Cao Minh T7 05 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 28 tháng 9 năm 2023.

Xử phạt bị cáo Trần Vĩnh K 05 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 28 tháng 9 năm 2023.

15

Căn cứ điểm đ khoản 4 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Phan Thanh Vũ E 07 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04 tháng 10 năm 2023.

Căn cứ điểm đ khoản 4 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 54, Điều 58, Điều 91, Điều 98, Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Bảo D 02 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 10 tháng 10 năm 2023.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ luật dân sự.

Công nhận sự thỏa thuận giữa bị hại Trần Bình T9 và các bị cáo như sau: bị cáo Ngô Minh T1 bồi thường cho T9 là 15.000.000 đồng, bị cáo Cao Minh H bồi thường cho T9 10.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Minh L1 bồi thường cho T9 6.000.000 đồng và gia đình bị cáo Trần Minh T3 bồi thường 500.000 đồng, gia đình bị cáo Lương Thanh P bồi 2.500.000 đồng, gia đình bị cáo Ngô Minh T1 bồi thường 1.500.000 đồng, gia đình bị cáo Trần Vĩnh K bồi thường 2.500.000 đồng, gia đình bị cáo Huỳnh Bảo D bồi thường 1.000.000 đồng (Gia đình các bị cáo T3, P, Ngô Minh T1, K, D đã bồi thường cho bị hại T3 xong số tiền 8.000.000 đồng)

Buộc các bị cáo Cao Minh H (H), Nghiêm Văn H2 (R), Ngô Minh T1 (T), Nguyễn Minh L1, Lương Thanh P, Trần Vĩnh K, Trần Minh T3, Huỳnh Bảo D (B), Phan Thanh Vũ E, Nguyễn Hữu N1 (L), Cao Minh T7 (C) có trách nhiệm liên đới bồi thường cho bị hại Lê Quốc V chi phí điều trị 30.000.000 đồng, tiền công lao động bị mất 9.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 18.000.000 đồng, tổng cộng 57.000.000 đồng (trong đó, các bị cáo Cao Minh H (H), Nghiêm Văn H2 (R), Ngô Minh T1 (T), Nguyễn Minh L1, Lương Thanh P, Trần Vĩnh K, Trần Minh T3, Huỳnh Bảo D (B), Nguyễn Hữu N1 (L), Cao Minh T7 (C)) đã bồi thường xong số tiền 35.500.000 đồng. Số tiền còn lại 21.500.000 đồng bị cáo Phan Thanh Vũ E và bị cáo Nghiêm Văn H2 (Rựa) tiếp tục bồi thường mỗi bị cáo là 10.750.000 đồng.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 19.500.000 đồng đã nộp tại Cơ quan điều tra Công an huyện T (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 31/01/2024) và số tiền 21.000.000 đồng đại diện gia đình các bị cáo đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn (theo các biên lai thu tiền số 0005690 ngày 10/5/2024, số 0005691 ngày 10/5/2024, số 0005692 ngày 10/5/2024, số 0005693 ngày 10/5/2024, số 0005694 ngày 10/5/2024 và số 0005695 ngày 10/5/2024) để đảm bảo thi hành án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

16

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Tịch thu tiêu hủy 01 ly thủy tinh bị vỡ, 01 cây dao bị gãy thành 02 đoạn, 01 bao da màu nâu, 01 túi giấy đựng vết nâu đỏ. Trả lại cho bà Lê Thị H1 01 (một) xe mô tô biển số 67B1-583.85, nhãn hiệu Honda Click, màu trắng-đen, số máy: 0041555; số khung: 341469 (đã qua sử dụng) (Các vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 06/QĐ-VKSTS, ngày 05/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn)

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Cao Minh H (H), Nghiêm Văn H2 (R), Ngô Minh T1 (T), Nguyễn Minh L1, Lương Thanh P, Trần Vĩnh K, Trần Minh T3, Huỳnh Bảo D (B), Phan Thanh Vũ E, Nguyễn Hữu N1 (Lùn), Cao Minh T7 (C) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; riêng bị cáo Nghiêm Văn H2, Phan Thanh Vũ E mỗi bị cáo phải chịu 537.500 đồng, bị cáo Ngô Minh T1 chịu 750.000 đồng, bị cáo Cao Minh H chịu 500.000 đồng và bị cáo Nguyễn Minh L1 chịu 300.000 đồng án phí dân sự trong hình sự.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp An Giang;
  • - Phòng PV 06 - Công an tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Thoại Sơn;
  • - Cơ quan THA hình sự huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Triều

17

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về vụ án hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 41/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cao Minh H và đồng phạm phạm tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger