TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số 41/2024/HS-PT Ngày 16 tháng 7 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Hán Hưởng |
| Các thẩm phán: | Ông Nguyễn Hà Giang |
| Ông Nguyễn Quang Vũ | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: | Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên. |
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc L và có kháng cáo của người bị hại là anh bùi Tùng K đối với Bản án hình sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
1. Bị cáo kháng cáo: Vũ Ngọc L (tên gọi khác: không), sinh năm 1997, tại: huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu F, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: khu T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Vũ Văn M, sinh năm 1967 và bà Trần Thị D, sinh năm 1971; có vợ là Nguyễn Thị Vân A, sinh năm 1999 và 01 người con sinh năm 2022;
Tiền án: Không.
Tiền sự: Tại quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 63 ngày 07/7/2023 của Công an huyện Y, xử phạt L 6.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích. L đã chấp hành xong.
Nhân thân: Năm 2014 bị Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng xử phạt 48 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, L đã chấp hành xong.
Tháng 8/2017, Vũ Ngọc L bị công an huyện Đ xử phạt về hành vi Xâm hại sức khỏe của người khác số tiền 2.500.000đồng.
Tháng 11/2017, Vũ Ngọc L bị Công an huyện Đ xử phạt về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác số tiền 2.500.000đồng.
Tháng 01/2019, Vũ Ngọc L bị Công an huyện Đ xử lý vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm xức khỏe của người khác số tiền 3.000.000đồng.
Tháng 8/2020, Vũ Ngọc L bị xử phạt hành chính về hành xâm phạm xức khỏe của người khác số tiền 2.500.000đồng.
04 Lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, đều đã chấp hành xong.
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện nay bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (có mặt tại phiên tòa).
2. Bị hại: Anh Bùi Tùng K1, sinh năm 2001
Nơi ĐKHKTT: Khu N, xã T, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
Chỗ ở hiện nay: Khu C, xã X, huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
2.1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại:
- Bà Nguyễn Thị Bích T - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm TGPL Nhà nước tỉnh P (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn H - Luật sư Công ty L2 - Đoàn Luật sư tỉnh V.
Địa chỉ: Số D, N, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 03/8/2023 anh Phạm Minh T1 sinh năm 1987 có HKTT: Khu T, thị trấn Y, huyện Y điều khiển xe ô tô BKS 19C-195.53 chở anh Trần Giang L1 sinh năm 1989 HKTT: Xã T, huyện Đ; Vũ Ngọc L sinh năm 1997 HKTT: Khu F, xã N, huyện Đ (C ở: Khu T, thị trấn Y, huyện Y) và Nguyễn Văn T2 sinh năm 1993 (Tên thường gọi là S) HKTT: Xã H, huyện C đi từ trang trại của anh L1 ở xã X về thị trấn Y, huyện Y. Khi đi qua đoạn đường gần cổng trường mầm non xã X thì L nhìn thấy anh Bùi Tùng K1 sinh năm 2001 HKTT: Khu Nai, xã T, huyện Y (C ở: Khu C, xã X, huyện Y) đang đứng nói chuyện cùng một số người ở lề đường (Do anh K1 vay của L 9.600.000đ từ tháng 07 năm 2023, đến hạn L gọi điện đòi nợ nhưng K1 không nghe máy); L bảo với anh T1 dừng xe lại em gặp thằng bạn của em tý. Thấy L bảo dừng xe thì anh T1 cho xe ô tô dừng lại (Anh T3 và mọi người trên xe không biết ý định của L gặp K1). L mở cửa kính xe ô tô gọi anh K1 “Mày lên xe tao bảo”, thấy L gọi thì anh K1 trả lời “Vâng”; anh K1 lên xe ô tô ngồi cạnh L. Thấy anh K1 lên xe và ngồi cạnh L thì anh T3 nghĩ là bạn của L cùng đi nên anh T3 lái xe cho xe chạy, khi đến khu T, thị trấn Y thì anh T3 về nhà. Anh L1 tiếp tục lái xe, lúc này L với anh K1 có cãi nhau (L hỏi nợ anh K1 nhưng anh K1 bảo chưa có tiền để trả và nói nhau), thấy vậy anh L1 bảo với L đi xuống đường mà cãi nhau và đuổi L, anh K1 xuống khỏi xe, sau đó mọi người trên xe lái xe đi về.
Khi L và anh K1 xuống khỏi xe, L tiếp tục đòi nợ anh K1 nhưng anh K1 không có tiền để trả nên L bực tức dùng tay tát vào mặt, đầu; dùng chân đá vào lưng, sườn, bụng làm anh K1 bị đau nằm ngã ra đường, thấy anh K1 nằm ngã ra đường, L không đánh nữa và đi về nhà.
Đối với anh K1: Sau khi bị L đánh gây thương tích thì gọi điện cho anh Hà Tuấn P (là bạn của anh K1) đến đón về nhà; Gia đình đã báo cáo công an xã X, công an huyện Y giải quyết và đưa anh K1 đến Trung tâm Y tế huyện Y khám, điều trị từ ngày 04/8/2023 đến ngày 11/8/2023 thì ra viện, tổng số tiền chi phí điều trị hết 6.257.739 đồng, trong đó: quỹ bảo hiển y tế thanh toán: 2.178.601 đồng, anh K1 thanh toán: 4.079.138 đồng. Ngày 17/8/2023 anh Bùi Tùng K1 có đơn đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật đối với Vũ Ngọc L.
Tại biên bản xác định thương tích ban đầu của công an huyện Y tại Trung tâm y tế huyện Y hồi 15 giờ 00 phút ngày 06/8/2023 đối với anh Bùi Tùng K1 thể hiện: Anh K1 bị nề đỏ ở vùng lưng, sờ nắn vị trí cung bên xương sườn trái có điểm đau chói; Vùng tai 2 bên và quanh 2 mắt sưng nề, bầm tím, xây xát nhẹ, sờ nắn đau; Kết quả chụp XQuang cột sống thẳng, lưng thẳng, nghiêng: Hình ảnh gãy cung bên xương sườn 7, 8 bên trái.
Tại trích sao bệnh án số 01/BV-01 ngày 14/8/2023 của Trung tâm y tế huyện Y điều trị đối với anh Bùi Tùng K1 xác định: Chụp XQuang cột sống thắt lưng thẳng nghiêng: Hình ảnh gãy cung bên xương sườn 7, 8; chụp XQuang ngực thẳng: hình ảnh gãy cung bên xương sườn 7, 8.
Ngày 23/8/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, tỉnh Phú Thọ trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh P giám định thương tích đối với anh Bùi Tùng K1. Tại bản kết luận giám định số 166/KLTTCT/TTPY ngày 31/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh P đối với anh Bùi Tùng K1 thể hiện:
- Gãy cung trước xương sườn số 5 bên phải, đang can xương: 02%.
- Gãy cung trước xương sườn số 6 bên phải, đang can xương: 02%.
- Gãy cung bên xương sườn số 7 bên phải, đang can xương 02%.
- Gãy cung bên xương sườn số 7 bên trái, đang can xương: 02%.
- Gãy cung bên xương sườn số 8 bên trái, đang can xương: 02%.
- Gãy cung sau sương sườn số 10 bên trái, đang can xương: 02%.
+ Tại thời điểm giám định sưng nề, bầm tím, sây xát nhẹ vùng quanh hốc mắt hai bên và hai bên tai, nề đỏ vùng lưng nay không để lại tổn thương gì nên Trung tâm pháp y không có căn cứ xếp tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Áp dụng phương pháp cộng tại thông tư: 11,41%. Làm tròn: 11%.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Bùi Tùng K1 tại thời điểm giám định là: 11% (Mười một phần trăm).
Cơ chế hình thành vết thương: Gãy cung trước xương sườn số 5,6 bên phải; gãy cung bên xương sườn số 7 bên phải; gãy cung bên xương sườn số 7,8 bên trái; gãy cung sau xương sườn số 10 bên trái: Do tác động của vật cứng gây nên. Các xương xườn gãy cùng đang can xương căn cứ vào tài liệu y học đang can xương có nghĩa cùng độ tuổi xương sườn gãy.
Tại thời điểm giám định trên da vùng quanh hốc mắt hai bên và hai bên tai không để lại tổn thương nên Trung tâm pháp y không xác định được cơ chế gây chấn thương.
Ngày 26/9/2023, Vũ Ngọc L có đơn đề nghị giám định lại thương tích đối với anh Bùi Tùng K1. Ngày 29/9/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Y trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh V giám định thương tích lại đối với anh Bùi Tùng K1.
Tại bản kết luận giám định lại lần thứ nhất số 362/KLTTCT/PYVP ngày 02/10/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh V đối với anh Bùi Tùng K1 kết luận:
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Bùi Tùng K1 tại thời điểm giám định là 11% (Mười một phần trăm).
Hành vi của Vũ Ngọc L dùng tay chân đánh vào vùng mặt, đầu, lưng, sườn, bụng của anh Bùi Tùng K1 gây thương tích cho anh K1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% (Mười một phần trăm) đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc L 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 của Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584; Điều 590 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Vũ Ngọc L có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm cho anh Bùi Tùng K1 các khoản tiền chi phí hợp lý sau:
- Tiền thuốc điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Y (từ ngày 04/8/2023 đến ngày 11/8/2023 ra viện) là: 4.079.000 đồng
- Tiền ngày công do bị mất thu nhập của anh K1 (từ ngày 04/8/2023 đến ngày 11/8/2023) là 07 ngày x 125.000 đồng = 875.000 đồng.
- Tiền thu nhập bị mất của người đi chăm sóc (từ ngày 04/8/2023 đến ngày 11/8/2023) là 07 ngày x 125.000 đồng = 875.000 đồng.
- Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm là 11 tháng lương tối thiểu x 1.800.000đ/tháng = 19.800.000 đồng.
- Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ 1 lần: 30 ngày x 125.000đ/ngày = 3.750.000 đồng.
Tổng là: 29.379.000 đ (Hai mươi chín triệu ba trăm bảy mươi chín nghìn đồng chẵn).
Xác nhận bị cáo Vũ Ngọc L đã nộp số tiền bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho anh K1 là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Bản án còn tuyên về lãi suất, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 12 tháng 3 năm 2024, bị cáo Vũ Ngọc L kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Ngày 01/3/2024, người bị hại anh Bùi Tùng K1 kháng cáo bản án sơ thẩm đề nghị các nội dung sau đây:
- Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự để xử tăng hình phạt đối với bị cáo Vũ Ngọc L.
- Đề nghị khởi tố bị cáo Vũ Ngọc L, Nguyễn Văn T2, Phạm Minh T1 và Trần Giang L1 về tội bắt giữ người trái pháp luật và tội cố ý gây thương tích quy định tại khoản 2 Điều 134 củ Bộ luật hình sự;
- Đề nghị xem xét lại theo hướng tăng bồi thường thiệt hại cho người bị hại.
Tại phiên tòa người bị hại và người bảo vệ quyền lợi người bị hại vẫn giữ nguyên các nội dung kháng cáo và đề nghị hủy bản án hình sự sơ thẩm do việc điều tra, thu thập chứng cứ của cơ quan điều tra chưa đầy đủ dẫn đến bỏ lọt tội phạm và bỏ lọt người phạm tội.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Ngọc L vẫn giữ nguyên kháng cáo của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ trình bày quan điểm giải quyết vụ án:
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Bác kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc L và người bị hại anh Bùi Tùng K1 về phần tội danh và phần hình phạt. Giữ nguyên quyết định về tội danh, hình phạt đối với bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của người bị hại anh Bùi Tùng K1. Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ về phần về bồi thường thiệt hại của bị cáo cho người bị hại do thay đổi về mức lương cơ sở và thay đổi về Mức lương tối thiểu vùng tại địa bàn huyện Y, tỉnh Phú Thọ.
Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; người bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc L và kháng cáo của người bị hại anh Bùi Tùng K1 thực hiện trong hạn luật định được xem xét, giải quyết.
[2] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra, phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm đã làm rõ: Do trước đó Bùi Tùng K1 vay tiền bị cáo Vũ Ngọc L nhưng chưa trả, nên buổi tối ngày 03/8/2023, trên đường V di chuyển bằng xe ô tô từ xã X về thị trấn Y có gặp anh Bùi Tùng K1 thì K1 cho xe dừng lại, sau đó anh K1 lên xe ô tô của Vũ Ngọc L thì cùng đi về thị trấn Y; trên đường đi L và K1 có trao đổi về khoản tiền anh K1 đã vay và phải trả cho L, đến khoảng 22 giờ ngày 03/8/2023 tại khu T, thị trấn Y, huyện Y, giữa L và anh K1 đã xảy ra mâu thuẫn, nên bị cáo L có hành vi dùng tay, chân đánh vào vùng mặt, đầu, lưng, sườn, bụng của anh K1, gây thương tích cho anh K1 tỷ lệ tổn thương cơ thể là 11% như nội dụng bản cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với cơ chế hình thành thương tích và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Vũ Ngọc L phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lập truy tố bị Vũ Ngọc L và Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội.
Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
[3] Xét các nội dung kháng cáo của người bị hại anh Bùi Tùng K1:
3.1. Xét kháng cáo người bị hại đề nghị phải khởi tố cả Phạm Minh T1, Nguyễn Văn T2 và Trần Giang L1 đồng phạm cùng với Vũ Ngọc L đồng phạm về tội Cố ý gây thương tích và áp dụng tình tiết Có tính chất côn đồ để xử phạt tình tiết định khung quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng : Căn cứ lời trình bày của anh K1 cho rằng: Chỉ có Nguyễn Văn T2 và Vũ Ngọc L cùng có hành vi đánh anh K1, cũng không thu thập được bất kỳ chứng cứ nào khác chứng minh Trần Văn T4 có hành vi cùng với Vũ Ngọc L đánh anh K1. Trong khi đó, cơ quan điều tra tuy tìm và chưa tìm thấy Nguyễn Văn T2 nên chưa củng cố được lời khai. Nên chưa có cơ sở để xác định Nguyễn Văn T2 đồng phạm đối với Vũ Ngọc L gây thương tích 11% sức khỏe cho anh K1. Như vậy, nội dung kháng cáo của anh K1 đề nghị truy tố cả Phạm Minh T1, Trần Giang L1 và Nguyễn Văn T2 đồng phạm hành vi cố ý gây thương tích cho anh K1 là căn cứ để chấp nhận. Nếu sau này tìm được Nguyên Văn T5 và có chứng cứ khác đủ căn cứ làm rõ được hành vi đồng phạm thì sẽ xử lý theo quy định của pháp luật
Xét nguyên nhân dẫn tới việc bị cáo L có hành vi đánh gây thương tích cho anh K1 thấy rằng: Xuất phát từ việc trước đó anh K1 mượn tiền của bị cáo, nhưng K1 chưa trả, khi bị cáo L liên hệ với K1 thì K1 còn tắt điện thoại để L không liên hệ được, thể hiện thái độ K1 muốn trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, nên khi bị cáo L gặp anh K1, sau khi trao đổi về khoản nợ hai bên đã xảy ra mâu thuẫn dẫn đến hành vi bị cáo L đánh gây thương tích cho anh K1, nên không có cơ sở để áp dụng tình tiết có tính chất côn đồ để chuyển khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự như nội dung đề nghị của anh K1.
3.2. Xét kháng cáo của anh K1 đề nghị khởi tố bị cáo Vũ Ngọc L và anh Phạm Minh T1, anh Trần Giang L1 và Nguyễn Văn T2 về tội bắt giữ người trái pháp luật quy định tại Điều 157 của Bộ luật hình sự thấy rằng: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, căn cứ lời trình bày của chính người bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ và chính lời khai của người bị hại và người làm chứng đều cho rằng chỉ có Nguyễn Văn Thế là người xuống hỏi Bùi Tùng K1 và khoác vai K1 sau đó cả hai cùng lên xe ô tô. Như vậy, chưa đủ căn cứ chứng minh có hành vi bị cáo Vũ Ngọc L, anh Trần Giang L1, anh Phạm Minh T1 thực hiện hành vi phạm tội bắt giữ người trái pháp luật đối với anh Bùi Tùng K1.
Đối với Nguyễn Văn T2: Hiện nay T2 đi khỏi địa phương, cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm, khi nào tìm thấy K1 thì cơ quan điều tra sẽ xem xét, làm rõ hành vi của K1, củng cố hồ sơ, nếu có đủ căn cứ sẽ khởi tố về hành vi bắt giữ người trái pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại và người bảo vệ quyền lợi cho người bị hại cho rằng có mâu thuẫn trong kết luận giám định, lời trình bày có mâu thuẫn chưa được đối chất, chưa khám xét chiếc xe trở người tại thời điểm xảy ra sự việc và chưa được thu giữ C để làm rõ hành vi của các đồng phạm khác ngoài Vũ Ngọc L nên phải hủy bản án sơ thẩm, trả hồ sơ để điều tra lại thấy rằng: Quá trình điều tra bị cáo L cho rằng kết quả giám định lần 1 chưa đúng và đề nghị giám định lại, nhưng tại phiên tòa, bị cáo L thừa nhận kết quả giám định tỷ lệ thương tích 11%; trong khi đó, mặc dù chưa đối chất nhưng đã có lời khai của những người làm chứng có trong hồ sơ và tại phiên tòa, những người làm chứng tham gia phiên tòa cũng đã khẳng định lời trình bày của mình phù hợp với lời khai có trong hồ sơ vụ án. Đối với chiếc Camera thì chủ sử dụng cũng xác định hiện nay bị hỏng, không còn để giao nộp và người quản lý, điều khiển chiếc xe cũng xác định xe không có camera hành trình. Nên việc hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại đối với chiếc Camera và đối với chiếc xe ô tô là không thể thực hiện được. Nên không có căn cứ để chấp nhận đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại như đề nghị được.
3.3. Do bản không có căn cứ hủy án sơ thẩm nên cần xem xét yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của người bị hại. Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận mức bồi thường tiền thuốc điều trị tại trung tâm y tế huyện Y thời gian 07 ngày 4.079.000đồng; Tiền công do mất thu nhập 7 ngày x 130.000đồng = 875.000đồng; Tiền mất thu nhập của người đi chăm sóc 7 ngày là 875.000đồng; Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần 11 tháng lương = 19.800.000đồng; Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe 1 lần 30 ngày = 3.750.000đồng. Tổng cộng là 29.379.000đồng.
Xét thấy người bị hại anh Bùi Tùng K1 đề nghị bị cáo phải bồi thường tiền chi phí điều trị mức 5.000.000đồng, trong khi đó, anh K1 chỉ cung cấp được chi phí điều trị 4.079.000đồng nên chỉ có căn cứ để chấp nhận khoản tiền chi phí điều trị 4.079.000đồng như cấp sơ thẩm đã quyết định.
Tại cấp phúc thẩm, anh K1 cung cấp thêm chứng cứ gồm hợp đồng phân phối số 68/2019/HĐMB giữa công ty TNHH Q và bên mua hàng NPP Hiệp Hương do người đại diện là ông Bùi Tùng K1 là bị hại trong vụ án và cung cấp bảng doanh số báng hàng năm 2023 để chứng minh thu nhập bị mất phải tính trên cơ sở hợp đồng thấy rằng: Cả hợp đồng và phụ lục hợp đồng giữa các bên đều xác định hợp đồng giữ hai bên chỉ có hiệu lực từ ngày 28/3/2019 đến thời điểm ngày 28/3/2022, không phải hợp đồng, phụ lục hợp đồng đến thời điểm xảy ra sự kiện bị cáo L gây thương tích cho anh K1. Vì vậy, không có căn cứ chứng minh thu nhập bị mất như bản doanh số anh K1 cung cấp để buộc bị cáo phải bồi thường được.
Đối với khoản tiền bồi thường thiệt hại về sức khỏe: Mức tối đa cho tổn thất tinh thần quy định tại khoản 2 Điều 590 của Bộ luật dân sự là 50 tháng lương cơ sở tương đương mức 1% sức khỏe được bồi thường 0,5 tháng lương, nhưng cấp sơ thẩm đã chấp nhận buộc bị cáo L phải bồi thường 11% sức khỏe cho anh K1 mức 11 tháng lương cơ sở (tương ứng 1% sức khỏe là 1 tháng lương), là đảm bảo quyền lợi cho anh K1. Nên không thể chấp nhận kháng cáo của anh K1 đề nghị tăng mức bồi thường cho anh K1 được.
Tuy nhiên, mức lương cơ sở tại thời điểm xét xử cấp sơ thẩm là 1.800.000đồng, nhưng từ ngày 01/7/2024, mức lương cơ sở là 2.340.000đồng, nên mức bồi thường có sự thay đổi là 2.340.000đồng x 11 = 25.740.000đồng;
Căn cứ nghị định 74/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính Phủ thì từ 1/7/2024, thu nhập bình quân vùng khu vực huyện Y (vùng IV) làm cơ sở tính ngày mất thu nhập tăng lên 3.450.000đồng/tháng. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 7 của nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng thẩm phán, Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì mức thu nhập bình quân vùng được chia 26 ngày, tương ứng làm tròn là 133.000 đồng/ngày, nên người bị hại bị mất thu nhập trong thời hạn 7 ngày x 133.000đồng/ngày = 931.000 đồng;
Tiền công người chăm sóc 07 ngày x 133.000đồng/ngày = 931.000đồng.
Tiền nghỉ mất thu nhập 30 ngày x 133.000đồng/ngày = 3.990.000đồng.
Tổng cộng là 35.671.000đ (Ba mươi lăm triệu sáu trăm bẩy mươi mốt nghìn đồng). Nên cần sửa phần bồi thường thiệt hại bị cáo L đối với anh K1 không phải lỗi chủ quan của cấp sơ thẩm.
3.4. Xét kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc L đề nghị giảm mức hình phạt thấy rằng: Bị cáo Vũ Ngọc L mặc dù không có tiền án, nhưng có 01 tiền sự và nhân thân đã có một lần thực hiện hành vi phạm tội và 04 lần xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm pháp luật, trong khi mức hình phạt tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt mức 9 tháng tù là đã cân nhắc kỹ các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách hiệm hình sự, tiền sự và nhân thân để áp dụng cho bị cáo, trong khi tại cấp phúc thẩm bị cáo không đưa ra được tình tiết giảm nhẹ nào khác để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên phải bác kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên quyết định hình phạt của bản án của Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Vũ Ngọc L.
[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ là phù hợp nên chấp nhận.
[5]. Về án phí:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Do thay đổi mức bồi thường thiệt hại nên tính lại án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[6]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Ngọc L xin giảm nhẹ hình phạt và không chấp nhận kháng cáo của người bị hại anh Bùi Tùng K1 đề nghị hủy bản án hình sự sơ thẩm.
Giữ nguyên quyết định hình phạt tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo Vũ Ngọc L.
[2] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của người bị hại anh Bùi Tùng K1 về phần bồi thường thiệt hại; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HSST ngày 29 tháng 02 năm 2024, của Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:
Căn cứ khoản 2 Điều 48 của Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584; Điều 590 của Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Vũ Ngọc L có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm hại sức khỏe cho anh Bùi Tùng K1 các khoản tiền sau đây:
- Tiền thuốc điều trị tại Trung tâm Y tế huyện Y (từ ngày 04/8/2023 đến ngày 11/8/2023 ra viện) là: 4.079.000 đồng
- Tiền ngày công do bị mất thu nhập của anh K1 (từ ngày 04/8/2023 đến ngày 11/8/2023) là 07 ngày x 130.000 đồng = 931.000 đồng.
- Tiền thu nhập bị mất của người đi chăm sóc (từ ngày 04/8/2023 đến ngày 11/8/2023) là 07 ngày x 130.000 đồng = 931.000 đồng.
- Tiền bồi thường tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm là 11 tháng lương tối thiểu x 2.340.000đồng = 25.740.000đồng.
- Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ 1 lần: 30 ngày x 133.000đ/ngày = 3.990.000 đồng.
Tổng là 35.671.000đ (Ba mươi lăm triệu sáu trăm bẩy mươi mốt nghìn đồng).
Xác nhận bị cáo Vũ Ngọc L đã bồi thường thiệt hại về sức khoẻ cho anh K1 số tiền là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng), tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Bị cáo L còn phải bồi thường số tiền 20.671.000₫ (Hai mươi triệu sáu trăm bẩy mươi mốt nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[3] Về án phí:
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Vũ Ngọc L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.033.550 đồng án phí dân sự trong vụ án hình sự. Tổng cộng là 1.233.550 đ (Một triệu hai trăm ba mươi ba nghìn năm trăm năm mươi đồng).
- Về án phí phúc thẩm: Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Vũ Ngọc L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự”.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hán Hưởng |
Bản án số 41/2024/HS-PT ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự phúc thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 41/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Ngọc L - Cố ý gây thương tích
