Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 41/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16 - 4 - 2024.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Khôiông Nguyễn Văn Mẫn.

Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Chuyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Liên – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 602/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T – sinh năm: 1991.

Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Bị đơn: Chị Phạm Thị Bé T1 – sinh năm: 1992.

Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(anh T có đơn xin xét xử vắng mặt; chị T1 vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị Bé T1 tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào ngày 22/12/2016. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng nhau. Do đó cuộc sống chung không còn hòa hợp, thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau. Từ năm 2019 cho đến nay, vợ chồng anh chị sống ly thân nhau. Nay tình cảm không còn nên anh yêu cầu được ly hôn chị Phạm Thị Bé T1.

- Về con chung: Anh và chị T1 có 03 con chung là:

  • + Nguyễn Hoàng Gia H – sinh ngày: 18/12/2010.
  • + Nguyễn Hoàng Gia H1 – sinh ngày: 29/6/2014.
  • + Nguyễn Hoàng Gia Đ – sinh ngày: 29/9/2016.

Khi ly hôn, anh yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con và không yêu cầu chị T1 cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Đối với chị Phạm Thị Bé T1: Mặc dù khi thụ lý và tiến hành các hoạt động tố tụng, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Giấy triệu tập chị T1 đến Tòa án làm việc nhưng chị T1 không đến Tòa án để thể hiện nguyện vọng của mình.

Các tài liệu, chứng cứ các đương sự giao nộp và Tòa án thu thập thì Tòa án đã ra thông báo cho các bên đương sự biết đồng thời tiến hành mở phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và ra thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho những người vắng mặt theo đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Do nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

+ Về quan hệ hôn nhân: Xét vợ chồng anh Tchị T1 đã xảy ra mâu thuẫn, không hòa giải đoàn tụ được. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T, cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn với chị Phạm Thị Bé T1.

+ Về con chung: Đề nghị giao 03 con chung là Nguyễn Hoàng Gia H – sinh ngày: 18/12/2010, Nguyễn Hoàng Gia H1 – sinh ngày: 29/6/2014, Nguyễn Hoàng Gia Đ – sinh ngày: 29/9/2016 cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời chị Phạm Thị Bé T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu.

+ Về tài sản chung, nợ chung: Anh T kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Hiện nay vắng mặt chị T1 nên chưa điều tra, làm rõ được, vì vậy sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.

+ Về án phí: Đề nghị buộc anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000đ án phí DSST về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu ly hôn, giải quyết về việc nuôi dưỡng con chung đối với bị đơn chị Phạm Thị Bé T1. Chị T1 đang cư trú tại huyện T, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

[1.2]. Anh Nguyễn Văn Tchị Phạm Thị Bé T1 là các đương sự trong vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia phiên tòa nhưng anh T có đơn xin xét xử vắng mặt, chị T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về áp dụng pháp luật nội dung: Anh Tchị T1 kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào ngày 22/12/2016. Nay anh T yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với chị T1 nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để giải quyết.

[3]. Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Tchị T1 sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn vào ngày 22/12/2016. Như vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Quá trình chung sống vợ chồng anh chị sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Anh T yêu cầu ly hôn với lý do tính tình vợ chồng không hòa hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tôn trọng.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã nhiều lần tiến hành triệu tập chị T1 đến Tòa án để hòa giải nhưng chị T1 không đến để làm việc. Điều này thể hiện ý chí của chị T1 không muốn hàn gắn, đoàn tụ. Đồng thời qua xác minh tại địa phương thể hiện đời sống chung của vợ chồng anh chị không hạnh phúc và đã sống ly thân nhau.

Xét thấy hôn nhân của anh Tchị T1 trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T là cho chị được ly hôn với chị Phạm Thị Bé T1.

[3.2]. Về con chung: Anh Tchị T1 có 03 con chung là:

  • + Nguyễn Hoàng Gia H – sinh ngày: 18/12/2010.
  • + Nguyễn Hoàng Gia H1 – sinh ngày: 29/6/2014.
  • + Nguyễn Hoàng Gia Đ – sinh ngày: 29/9/2016.

Anh T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung cho. Xét thấy, bản thân anh T có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Từ khi anh Tchị T1 sống ly thân đến nay, các con chung sống cùng anh T và được anh T chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng tốt. Bản thân cả 03 con chung đều có nguyện vọng trực tiếp sống cùng anh T. Vì vậy, để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung nên Hội đồng xét xử quyết định giao cả 03 con chung cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm thời chị T1 không phải cấp dưỡng nuôi con do anh T không yêu cầu.

Khi nào có tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

[3.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh T kê khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Hiện nay vắng mặt chị T1 nên chưa điều tra, làm rõ được, vì vậy sẽ giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.

[4]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.

[5]. Xét quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 235 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;
  • - Các Điều 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T. Cho anh Nguyễn Văn T được ly hôn chị Phạm Thị Bé T1.

2. Về con chung: Anh Tchị T1 có 03 con chung là:

  • + Nguyễn Hoàng Gia H – sinh ngày: 18/12/2010.
  • + Nguyễn Hoàng Gia H1 – sinh ngày: 29/6/2014.
  • + Nguyễn Hoàng Gia Đ – sinh ngày: 29/9/2016.

Giao cả 03 con chung cho anh Nguyễn Văn T trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm thời chị Phạm Thị Bé T1 không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị T1 có quyền qua lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được gây trở ngại. Vì lợi ích của con chung các bên đương sự được quyền xin thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Khi nào có tranh chấp về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng vụ án khác.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi phát sinh tranh chấp.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) anh T đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số 0012772 ngày 11 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai chuyển thành án phí.

5. Quyền kháng cáo: Anh Tchị T1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • - UBND xã Phú Lộc: Để ghi vào số hộ tịch (Giấy CNKH số 93, cấp ngày 22/12/2016);
  • - Lưu HS - LT.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 41/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 41/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger