|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 41/2024/HS-ST Ngày: 15/8/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng
Thẩm phán: Ông Lê Khắc Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Hùng;
- Ông Nguyễn Văn Tệt;
- Ông Bùi Hữu Soi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Ông Nguyễn Quốc Thái - Kiểm sát viên.
Trong ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ tên: Nguyễn Huy K. Giới tính: Nam, Tên gọi khác: Không có, sinh ngày 19/5/1953, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang; Nơi ở: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh, Giám đốc Công ty C; cha ông Nguyễn Đ K1 sinh năm 1918 (đã chết) và bà Lê Thị T năm 1920 (đã chết); Anh, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ là Nguyễn Thị M năm 1955; Có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1988; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bắt tạm giam ngày 17/4/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huy K Luật sư Dương Thị Đ1 T2 Công ty L thuộc đoàn Luật sư tỉnh An Giang. (có mặt)
Địa chỉ: Số D, tuyến N, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Trần Thị D năm 1970 (vắng mặt).
- Nguyễn A1 T3 sinh năm 1983. (vắng mặt).
Địa chỉ: Số A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang
Người đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Đức D1 sinh năm 1980. (có mặt)
Địa chỉ: ấp V, xã V, A, An Giang
- Bị hại: Bùi Văn O năm 1952 (có mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp
- Người làm chứng:
- Huỳnh Thị P năm 1968 (có mặt).
- Bùi Hữu T4 sinh năm 1987; (vắng mặt)
- Nguyễn Thị Cẩm G năm 1992; (vắng mặt)
- Trương Văn P1 sinh năm 1963; (vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang
Địa chỉ: Số A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang
Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH C1 (gọi tắt là Công ty C1) đăng ký thành lập vào ngày 21/5/2019, có trụ sở tại huyện T, tỉnh An Giang, mã số thuế 1602101286; ngành nghề kinh doanh chính là chuẩn bị mặt bằng; loại hình kinh tế là Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; có vốn điều lệ là 1,9 tỷ đồng, gồm 18 thành viên góp vốn, trong đó bị cáo Nguyễn Huy K giữ chức vụ Tổng giám đốc, góp vốn 380 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 20%. Công ty này đăng ký thực hiện nghĩa vụ thuế tại C2 khu vực C1 phương pháp tính thuế giá trị gia tăng (GTGT): khấu trừ. Nhưng thực tế không có ai góp vốn và từ khi thành lập đến quý 3/2022 Công ty không có hoạt động kinh doanh gì nên không có phát sinh doanh thu.
Ngày 01/01/2022, bị cáo K diện Công ty C và ông Bùi Văn O1 Chủ Doanh nghiệp tư nhân P1 (có trụ sở tại xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp) thỏa thuận ký kết hợp đồng liên doanh khai thác cát. Trong ngày 01/01/2022, bị cáo K và ông O2 ký kết 02 hợp đồng như sau:
1/ Hợp đồng liên doanh khai thác cát (về việc liên doanh khai thác cát trên sông T Dự án nạo vét thông luồng trên Sông T thuộc địa bàn huyện C, tỉnh An Giang theo Quyết định số 635/QĐ-UBND tỉnh An Giang ngày 29/3/2021) với nội dung: 02 doanh nghiệp liên doanh, liên kết nạo vét thông luồng trên sông T địa bàn huyện C, tỉnh An Giang địa điểm khai thác cát từ Ngiữa C thuộc xã T, huyện C, tỉnh An Giang.
2/ Hợp đồng liên doanh khai thác cát (V/v hợp tác thi công Công trình nạo vét thông luồng sông T khu vực xã B và xã T, huyện C, tỉnh An Giang) với nội dung: Công ty C3 giao mặt bằng để Doanh nghiệp tư nhân P2 thi công nạo vét tận thu cát trên tuyến sông T trong hạng mục “Công trình nạo vét tận thu luồng sông T
Sau khi ký kết hợp đồng, vào ngày 07/02/2022 bị cáo K cầu ông O đưa 02 tỷ đồng để làm chi phí xin giấy phép khai thác cát, ông O2 trực tiếp đưa cho bị cáo K 02 tỷ đồng tiền mặt, có biên nhận thể hiện.
Sau khi chiếm đoạt 02 tỷ đồng vào ngày 07/02/2022, bị cáo K tục viện lý do cần tiền để làm chi phí xin giấy phép khai thác cát nên yêu cầu ông O3 thêm tiền. Để ông O4 tưởng đưa tiền, ngày 11/02/2022 bị cáo K cho ông O Quyết định số 2037/QĐ-UBND ngày 01/9/2021 của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh An Giang “Về việc phê duyệt hồ sơ Báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án “nạo vét thông luồng đường thủy nội địa, kết hợp thu hồi sản phẩm nhánh sông T (rạch C G1 thuộc huyện C, tỉnh An Giang”; chủ đầu tư là Sở G2 – Công ty TNHH C4 chỉ định thầu nhận thi công nạo vét (gọi tắt là Quyết định số 2037). Tưởng thật nên cùng ngày 11/02/2022 ông O2 chuyển khoản cho bị cáo K tiền 2.200.000.000 đồng, có biên nhận và sao kê tài khoản ngân hàng thể hiện.
+ Ngày 19/02/2022 bị cáo K tiếp tục yêu cầu ông O3 01 tỷ đồng để chuẩn bị tiến hành thi công dự án, do không đủ tiền nên O5 chuyển khoản cho bị cáo K 400 triệu đồng, có sao kê tài khoản ngân hàng thể hiện.
Tổng cộng bị cáo K nhận của ông O đồng.
- Ngày 26/02/2022, ông O7 bị cáo K tiếp tục ký Hợp đồng hợp tác, liên doanh toàn diện số 01/2022/LD-TBCĐ&PT với nội dung: 02 bên thực hiện xúc tiến đấu thầu, nhận thầu và tổ chức thi công Dự án. Sau khi ký hợp đồng này, bị cáo K 01 tuần sau sẽ đưa phương tiện của ông O8 sông khai thác cát từ khu vực nhà thờ C2 đến giữa Cồn Én thuộc xã T, huyện C, An Giang bị cáo K thực hiện nên ông O cơ quan chức năng tìm hiểu thì được biết Công ty của bị cáo K phải là chủ đầu tư dự án như Quyết định số 2037 mà bị cáo K đưa cho ông O10 mình đã bị lừa nên ông O11 đơn tố giác hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo K10 Công an tỉnh Đồng Tháp.
- Kết quả xác minh và giám định Quyết định số 2037 thể hiện như sau:
+ Ngày 03/01/2023 Sở G1 (GTVT) tỉnh An Giang có văn bản xác định: Ngày 01/9/2021 UBND tỉnh An Giang ban hành Quyết định số 2037 về việc phê duyệt hồ sơ báo cáo nghiên cứu khả thi dự án Nạo vét thông luồng thủy nội địa, kết hợp thu hồi sản phẩm nhánh sông T (rạch C G1 thuộc huyện C, tỉnh An Giang. Đơn vị được giao chủ đầu tư là Sở GTVT tỉnh G2 tuy nhiên do vướng mắc một số thủ tục nên dự án chưa triển khai, do đó chưa có nhà đầu tư nào tham gia dự án, kể cả Công ty C1. Từ năm 2019 đến nay, Sở GTVT tỉnh G2 chưa triển khai bất cứ dự án nào nạo vét thông luồng với vai trò là Chủ Đầu tư. Vì vậy Sở GTVT tỉnh G2 cũng không có làm việc với nhà đầu tư nào liên quan đến các dự án nạo vét thông luồng, kể cả Công ty C1.
+ Ngày 19/01/2023 Văn phòng UBND tỉnh An Giang văn bản xác định: UBND tỉnh An Giang có ban hành Quyết định số 2037, theo đó chủ đầu tư dự án là Sở GTVT tỉnh G2, do phát sinh một số vướng mắc nên đến nay chưa tiến hành đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án. UBND tỉnh An Giang có ban hành Quyết định số 635/QĐ-UBND ngày 29/3/2021 liên quan dự án nạo vét thông luồng trên sông T, địa điểm khai thác từ khu vực nhà thờ C2 đến giữa Cồn Én thuộc xã T, huyện C, tỉnh An Giang. Từ năm 2019 đến nay, UBND tỉnh An Giang không có phê duyệt cho Công ty C1 làm chủ đầu tư dự án liên quan đến lĩnh vực khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh An Giang.
+ Ngày 07/3/2023, Cơ quan CSĐT ra Quyết định trưng cầu giám định chữ ký tên Trần A2 T5 Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang và hình dấu tròn “UBND tỉnh An Giang” trên Quyết định số 2037. Tại bản kết luận giám định số 307 ngày 16/3/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Chữ ký tên và hình con dấu trên Quyết định số 2037 không phải là chữ ký trực tiếp và không phải hình dấu được đóng trực tiếp từ con dấu mà được tạo ra bằng phương pháp in phun màu.
Trong quá trình điều tra bị cáo K nhận đã lừa đảo chiếm đoạt của ông O12 tiền 4,6 tỷ đồng. Số tiền chiếm đoạt được bị cáo đưa cho bà Trần Thị D1 (là người có quan hệ tình cảm với bị cáo) khoảng 02 tỷ đồng, số tiền còn lại bị cáo làm chi phí đi lại, trả nợ và tiêu xài cá nhân. Sau khi bị tố cáo, bị cáo đã trả lại cho ông O13 300 triệu đồng, còn lại 4,3 tỷ đồng không có khả năng hoàn trả.
- Việc thu giữ tài liệu, đồ vật: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Tháp thu giữ những tài liệu, đồ vật như sau:
+ Thu giữ của bị cáo K12 điện thoại di động Nokia 230 (đã qua sử dụng) bên trong có 02 sim số 0949.955.053 và 0354.477.453.
+ Thu giữ của bị hại Ông Quyết định số 2037 ngày 01/9/2021 của UBND tỉnh An Giang (quyết định này của bị cáo K cho ông O. Tài liệu này Cơ quan điều tra đã đưa vào hồ sơ vụ án để làm chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.
- Về khắc phục hậu quả: Trong giai đoạn giải quyết tố giác tội phạm, bị cáo K hoàn trả cho bị hại O14 được 300 triệu đồng, còn lại 4.300.000.000 đồng bị cáo K13 định mình không có khả năng hoàn trả cho người bị hại.
- Việc thu giữ, kê biên tài sản: Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, truy tìm tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo K14 thu giữ, kê biên nhằm bảo đảm thi hành án cho bị hại nhưng bị cáo có tài sản gì.
Trong quá trình điều tra, bị cáo K thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, biên nhận nhận tiền, kết quả sao kê tài khoản ngân hàng, kết quả giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại cáo trạng số 10/CT-VKSĐT-P2 ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Nguyễn Huy K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm o, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; điểm g khoản 1 Điều 52, khoản 1 điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Huy K 07 năm đến 08 năm tù.
Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 341; điểm o, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Huy K 02 năm đến 03 năm tù.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Huy K chấp hành là 09 năm đến 11 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/4/2023.
Về hình phạt bổ sung do bị cáo không còn tài sản và cũng không có thu nhập nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo K chiếm đoạt của ông O12 tiền 4.600.000.000 đồng, bị cáo đã hoàn trả được 300 triệu đồng. Buộc bị cáo phải bồi thường tiếp cho ông O12 tiền 4.300.000.000 đồng
Về xử lý vật chứng, đề nghị xem xét theo phần Quyết định của Cáo trạng đã nêu.
* Tại phiên tòa bị hại ông Bùi Văn O bày: Về dân sự yêu cầu bị cáo K thường tiếp số tiền 4.300.000.000 đồng. Về hình sự yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huy K biểu quan điểm:
- Thống nhất về tội danh và điều luật truy tố thống nhất theo cáo trạng của Viện kiểm sát đề nghị.
- Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ sau đây:
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có thành tích xuất trong chiến đấu (được tặng Huân chương chiến công hạng 3), khi bị đề nghị truy tố bị cáo đã trên 70 tuổi, bị cáo là Thương binh loại A, đã bồi thường một phần thiệt hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại các điểm o, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
* Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Về phần trách nhiệm dân sự bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét quá trình lao động cống hiến cho đất nước, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình lo khắc phục cho bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Huy K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo khẳng định hành vi phạm tội được nêu trong bản cáo trạng số 10/CT-VKSĐT-P2 ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là đúng với hành vi của bị cáo. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Đây là vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức do bị cáo Nguyễn Huy K thực hiện. Bằng thủ đoạn nói dối Công ty C được UBND tỉnh An Giang làm chủ đầu tư “Dự án nạo vét thông luồng đường thủy nội địa, kết hợp thu hồi sản phẩm nhánh sông T (rạch C G1 thuộc huyện C, tỉnh An Giang) và cung cấp tài liệu giả của cơ quan nhà nước (Quyết định số 2037 của UBND tỉnh An Giang) bị cáo K đã chiếm đoạt của ông Bùi Văn O tiền 4.600.000.000 đồng (Bốn tỷ, sáu trăm triệu đồng) sử dụng vào mục đích cá nhân. Hành vi của Nguyễn Huy K phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 và “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 02 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2.......;
3.......;
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500 triệu đồng trở lên.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Điều 341. Tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
2. ...........
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a).......;
b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
[3] Bị cáo là đối tượng có nhận thức đầy đủ, bị cáo hoàn toàn có thể nhận thức được hành vi của mình, biết rất rõ hành vi nào là đúng pháp luật, hành vi nào trái pháp luật nhưng đã có thủ đoạn gian dối nhiều lần chiếm đoạt tài của bị hại một cách trái pháp luật và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mang tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người bị hại một cách trái pháp luật, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Do đó, cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm: Bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại, mỗi lần chiếm đoạt đều từ 02 triệu đồng trở lên nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có thành tích xuất trong chiến đấu (được tặng Huân chương chiến công hạng 3), khi bị đề nghị truy tố bị cáo đã trên 70 tuổi, bị cáo là Thương binh loại A, đã bồi thường một phần thiệt hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, o, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “đã bồi thường một phần thiệt hại” đối với tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xem xét áp dụng hình phạt dưới khung đối với bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không còn tài sản và cũng không có thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo. Buộc bị cáo Nguyễn Huy K tiếp tục bồi thường cho bị hại Bùi Văn O tiền 4.300.000.000 đồng (bốn tỷ ba trăm triệu).
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia 230 (đã qua sử dụng) bên trong có 02 sim số 0949.955.053 và 0354.477.453.
[9] Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản của tội danh, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Huy K là có căn cứ nên chấp nhận. Tuy nhiên, đối với tình tiết bị cáo khắc phục một phần hậu quả với số tiền 300.000.000 đồng thì Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo chứ không áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã đề nghị.
[10] Xét ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Huy K về việc xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
[11] Về các vấn đề khác:
- Đối với bà Trần Thị D1: Bà D bị cáo K biết với nhau vào khoảng năm 2019, đến năm 2020 phát sinh tình cảm nên bà D bị cáo K ở chung nhà của bà D ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Bị cáo K khai có đưa cho bà D 02 tỷ đồng từ nguồn tiền chiếm đoạt của ông O bà D thừa nhận, kết quả điều tra không thu thập được chứng cứ khác. Đồng thời, Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ điều tra bổ sung làm rõ vai trò, trách nhiệm đối với bà D nhiên bà D bỏ địa phương đi và Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm chưa đủ căn cứ xử lý bà D. Hội đồng xét xử không xem xét. Đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
- Đối với ông Quách B D Thông qua mối quan hệ cá nhân, bị cáo K biết với ông D cáo K cho rằng Quyết định 2037 là do ông D làm giả và đưa cho bị cáo, nhưng qua xác minh thì ông D không có mặt tại nơi cư trú, cũng không biết ông D đang ở đâu nên Cơ quan điều tra không làm việc được với ông D, vì vậy chưa có đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm đối với ông D. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
[12] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Huy K người cao tuổi nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy K tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, o, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy K 08 (tám) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 341; điểm o, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy K 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo Nguyễn Huy K chấp hành là 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 17/4/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự và Điều 589 Bộ luật Dân sự; Chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo tại phiên tòa. Buộc bị cáo Nguyễn Huy K nghĩa vụ bồi thường tiếp cho bị hại Bùi Văn O tiền 4.300.000.000 đồng (bốn tỷ ba trăm triệu đồng).
- Về lãi suất chậm trả: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động N, IMEI 1:356933115062889; IMEI 2: 356933115362883 (đã qua sử dụng), bên trong có 02 sim số 0949.955.053 và 0354.477.453.
(Các vật chứng và tài sản trên hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/6/2024).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Huy K người cao tuổi nên được miễn án phí Hình sự, Dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người liên quan có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |
Bản án số 41/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (hình sự)
- Số bản án: 41/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
